
Theo Khoản 3 Điều 19 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015, quy định về chế độ quản lý đối với người bị tạm giữ, tạm giam như sau:
1. Cơ sở giam giữ:
Phải được canh gác, bảo vệ, quản lý, kiểm tra, giám sát 24/24 giờ trong ngày.
2. Vị trí giam giữ:
Người bị tạm giữ phải ở trong buồng tạm giữ; người bị tạm giam phải ở trong buồng tạm giam. Chỉ được ra khỏi buồng nếu có lệnh của thủ trưởng cơ sở giam giữ để thực hiện lệnh trích xuất hoặc các hoạt động theo khoản 5 Điều 20 và nội quy cơ sở giam giữ.
3. Quyền bị hạn chế:
Người bị tạm giữ, tạm giam bị hạn chế các quyền:
Đi lại
Giao dịch
Tiếp xúc
Thông tin
Liên lạc
Tuyên truyền tín ngưỡng, tôn giáo
✅ Trường hợp cần thiết để thực hiện giao dịch dân sự, người bị tạm giữ, tạm giam phải thông qua người đại diện hợp pháp và được sự đồng ý của cơ quan đang thụ lý vụ án.
4. Việc điều chuyển người bị tạm giữ, tạm giam:
Do thủ trưởng cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam quyết định sau khi thống nhất với cơ quan đang thụ lý vụ án và thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp biết.
Câu trả lời là có thể, nhưng không được trực tiếp.
Người bị tạm giam chỉ bị hạn chế chứ không bị cấm tuyệt đối việc giao dịch dân sự.
👉 Nếu thật sự cần thiết thực hiện giao dịch dân sự, cần:
Có người đại diện hợp pháp thay mặt thực hiện
Được sự đồng ý của cơ quan đang thụ lý vụ án
Soạn giấy ủy quyền đúng quy định
Gửi đơn xin phép cơ quan thụ lý
Nhận hỗ trợ từ luật sư để đảm bảo hợp pháp
Việc hiểu đúng quyền của người bị tạm giữ, tạm giam là rất quan trọng, giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp trong các vấn đề dân sự như: quản lý tài sản, thanh toán nợ, chuyển nhượng hợp đồng, v.v.