

Căn cứ Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
Điều 117. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.
Theo đó, một hợp đồng được coi là có hiệu lực khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện nêu trên, không bắt buộc phải có con dấu. Như vậy, nếu hợp đồng được ký kết hợp pháp, giữa các bên có đầy đủ năng lực pháp lý, hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung không vi phạm pháp luật thì vẫn có hiệu lực pháp lý dù chưa đóng dấu.
Ví dụ: Hợp đồng do người được ủy quyền hợp pháp ký kết, các bên tự nguyện, thực tế thực hiện hợp đồng đầy đủ thì vẫn có hiệu lực, dù không có con dấu của doanh nghiệp.
Tại Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
Điều 129. Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức
Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ các trường hợp sau:
Giao dịch dân sự được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.
Giao dịch dân sự vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ thì Tòa án vẫn có thể công nhận hiệu lực, và các bên không cần công chứng/chứng thực lại.
→ Như vậy, nếu hợp đồng không đúng hình thức nhưng đã được thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ, Tòa án có thể công nhận hiệu lực.
Theo Điều 119 Bộ luật Dân sự 2015, hình thức giao dịch dân sự được thể hiện qua lời nói, văn bản, hoặc hành vi cụ thể. Việc đóng dấu không được quy định là hình thức bắt buộc để hợp đồng có hiệu lực, trừ khi các bên thỏa thuận rõ ràng rằng hợp đồng phải có con dấu mới phát sinh hiệu lực.
Do đó, nếu không có thỏa thuận bắt buộc phải đóng dấu, hợp đồng vẫn có hiệu lực khi đáp ứng các điều kiện về chủ thể, nội dung và sự tự nguyện.
Theo Điều 142 và Điều 143 Bộ luật Dân sự 2015:
Nếu người ký hợp đồng không có thẩm quyền nhưng người có thẩm quyền biết và không phản đối, thì hợp đồng vẫn được công nhận.
Nếu người ký vượt thẩm quyền nhưng được người có thẩm quyền chấp nhận, thì hợp đồng vẫn có giá trị pháp lý.
→ Trong những trường hợp này, con dấu chỉ ảnh hưởng khi có quy định nội bộ yêu cầu đóng dấu, hoặc là yếu tố để xác định thẩm quyền ký.
Hợp đồng do người được ủy quyền ký nhưng không có con dấu vẫn có thể có giá trị pháp lý, nếu:
Hợp đồng đáp ứng đủ các điều kiện có hiệu lực theo Điều 117;
Không có thỏa thuận bắt buộc phải có dấu;
Hoặc trong thực tế các bên đã thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, và không có tranh chấp.