
Vợ ở nhà nội trợ trong trường hợp nào được xác định là người phụ thuộc để tính giảm trừ gia cảnh cho người nộp thuế? Đối tượng nào được áp dụng giảm trừ gia cảnh và công thức tính toán cụ thể đối với trường hợp có vợ làm nội trợ là người phụ thuộc được quy định như thế nào?
Theo quy định tại tiết d.2 Điểm d và Điểm đ khoản 1 Điều 9 Thông tư 111/2013/TT-BTC và khoản 4 Điều 10 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2026), vợ ở nhà nội trợ được tính là người phụ thuộc nếu đáp ứng các điều kiện sau:
Trường hợp vợ ở nhà nội trợ đang trong độ tuổi lao động:
Trường hợp vợ ở nhà nội trợ ngoài độ tuổi lao động:
Nếu không thỏa mãn các điều kiện trên, người vợ làm nội trợ không thuộc diện được đăng ký làm người phụ thuộc để giảm trừ gia cảnh.
Lưu ý: Việc giảm trừ gia cảnh đối với người phụ thuộc thực hiện theo nguyên tắc mỗi người phụ thuộc chỉ được tính giảm trừ một lần vào một người nộp thuế. Trường hợp người vợ đã được tính là người phụ thuộc của đối tượng khác (như cha, mẹ hoặc con của người vợ) thì người chồng không được đăng ký giảm trừ.
Căn cứ Khoản 1 Điều 10 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025, giảm trừ gia cảnh áp dụng đối với cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công. Theo Khoản 2 Điều 2 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025, cá nhân cư trú phải đáp ứng một trong các tiêu chí:
Mức giảm trừ gia cảnh quy định cụ thể:
Theo quy định mới áp dụng cho năm 2026, công thức xác định tổng mức giảm trừ gia cảnh hằng tháng cho người nộp thuế có một người phụ thuộc là vợ nội trợ như sau:
| Mức giảm trừ gia cảnh = 15,5 triệu đồng + 6,2 triệu đồng |
Trong đó: