Căn cứ theo quy định tại Điều 54 Luật Bảo vệ môi trường 2020, được sửa đổi bổ sung bởi điểm e khoản 37 Điều 1 Luật sửa đổi 15 Luật trong lĩnh vực Nông nghiệp và Môi trường 2025 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026, trách nhiệm tái chế của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu được quy định cụ thể như sau:
1. Các tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động sản xuất, nhập khẩu sản phẩm, bao bì thuộc diện có giá trị tái chế phải tiến hành tái chế theo đúng tỷ lệ và quy cách tái chế bắt buộc theo quy định pháp luật. Quy định này không áp dụng đối với các sản phẩm, bao bì phục vụ mục đích xuất khẩu, tạm nhập tái xuất hoặc được sản xuất, nhập khẩu nhằm mục đích nghiên cứu, học tập, thử nghiệm.
2. Tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu được quyền chủ động lựa chọn thực hiện trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì thông qua một trong các hình thức dưới đây:
3. Các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ tái chế phải đăng ký kế hoạch tái chế đồng thời báo cáo kết quả tái chế định kỳ hằng năm đến Bộ Tài nguyên và Môi trường, ngoại trừ trường hợp lựa chọn hình thức đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam.
4. Việc thực hiện đóng góp và sử dụng nguồn đóng góp tài chính hỗ trợ tái chế sản phẩm, bao bì phải tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc sau:
Căn cứ quy định tại Điều 6 Nghị định 110/2026/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết về hình thức thực hiện trách nhiệm tái chế từ ngày 25/5/2026 như sau:
1. Thương nhân sản xuất, nhập khẩu lựa chọn duy nhất một hình thức thực hiện trách nhiệm tái chế cho từng nhóm sản phẩm, bao bì cụ thể được quy định tại Cột 2 Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định 110/2026/NĐ-CP.
2. Đối với trường hợp nhà sản xuất, nhập khẩu lựa chọn hình thức tự tổ chức tái chế sản phẩm, bao bì thì có thể chủ động thực hiện theo các cách thức sau:
3. Nhà sản xuất, nhập khẩu tự thực hiện tái chế phải được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép môi trường hoặc giấy phép môi trường thành phần có nội dung phù hợp, đồng thời bảo đảm đầy đủ các điều kiện về bảo vệ môi trường.
4. Các đơn vị tái chế được thuê bởi nhà sản xuất, nhập khẩu hoặc được thuê bởi đơn vị tổ chức trách nhiệm tái chế cũng bắt buộc phải có giấy phép môi trường hoặc giấy phép môi trường thành phần tương ứng phù hợp.
5. Đơn vị tổ chức trách nhiệm tái chế được ủy quyền có trách nhiệm nghiệm thu, xác nhận chính xác khối lượng sản phẩm, bao bì đã tiếp nhận và tái chế để làm cơ sở tính vào kết quả thực hiện. Đơn vị này không được phép ủy quyền lại cho một đơn vị tổ chức trách nhiệm tái chế khác.
6. Toàn bộ hồ sơ, chứng từ chứng minh việc thu gom, chuyển giao, tiếp nhận và xuất kho nguyên liệu đưa vào quy trình tái chế phải được thiết lập, quản lý và theo dõi độc lập với các loại nguyên liệu khác. Các chứng từ, biên bản giao nhận được thực hiện theo mẫu chứng từ chất thải nguy hại hoặc biên bản giao nhận chất thải rắn công nghiệp thông thường do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành.
7. Bộ Nông nghiệp và Môi trường có trách nhiệm hỗ trợ đăng tải công khai thông tin của các đơn vị tái chế và đơn vị tổ chức trách nhiệm tái chế lên Hệ thống thông tin EPR quốc gia.
Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Nghị định 110/2026/NĐ-CP, các đối tượng sau đây được miễn trừ thực hiện trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì: