
Hoạt động dẫn giải phạm nhân qua lãnh thổ quốc gia là một nội dung quan trọng trong hợp tác tư pháp hình sự quốc tế. Để bảo đảm an ninh quốc gia đồng thời tôn trọng các điều ước quốc tế, quy trình xử lý hồ sơ và tổ chức giám sát người chấp hành án qua lãnh thổ Việt Nam đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan hữu quan. Việc nắm rõ thủ tục quá cảnh người đang chấp hành án phạt tù giúp các bên liên quan chủ động trong khâu chuẩn bị và vận hành phương án áp giải an toàn.
Trước khi tìm hiểu sâu về quy trình áp giải qua lãnh thổ, cần xác định chính xác đối tượng tác động của quy định này dưới góc độ pháp lý.
Căn cứ khoản 2 Điều 3 Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù 2025, người đang chấp hành án phạt tù được xác định là người bị kết án phạt tù có thời hạn hoặc tù chung thân và hiện đang thực tế chấp hành án tại cơ sở giam giữ phạm nhân. Hoạt động chuyển giao phạm nhân nói chung chính là việc Việt Nam và nước ngoài bàn giao cho nhau người thuộc đối tượng này trên cơ sở nguyện vọng cá nhân, sự đồng ý tiếp nhận của nước sở tại, pháp luật quốc gia, điều ước quốc tế hoặc nguyên tắc có đi có lại.
Các bước đăng ký, thẩm định và cấp phép di chuyển phạm nhân xuyên biên giới qua Việt Nam được phân định mạch lạc nhằm tối ưu thời gian xử lý nhưng vẫn bảo đảm tối đa công tác an ninh.
Theo Điều 6 Nghị định 171/2026/NĐ-CP, trình tự thủ tục quá cảnh người đang chấp hành án phạt tù được thực hiện qua các bước cơ bản sau:
Quốc gia đề nghị gửi văn bản chính thức đến Bộ Công an trước ít nhất 10 ngày so với thời điểm dự kiến di chuyển qua lãnh thổ Việt Nam. Việc gửi và nhận văn bản có thể linh hoạt thực hiện qua môi trường điện tử (hộp thư điện tử). Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ khi nhận văn bản, Bộ Công an sẽ xem xét và đưa ra quyết định cho phép hay không cho phép quá cảnh.
Văn bản xin phép di chuyển phạm nhân từ nước ngoài bắt buộc bảo đảm đầy đủ các thông tin cốt lõi:
Trong toàn bộ khoảng thời gian chờ chuyển tiếp phương tiện tại sân bay quốc tế hoặc cửa khẩu cảng biển, phạm nhân và nhân viên áp giải phải lưu lại đúng khu vực quá cảnh theo luật định. Đoàn áp giải của nước đề nghị chịu trách nhiệm chính trong việc quản lý phạm nhân; lực lượng chức năng Việt Nam phối hợp hỗ trợ bảo đảm an ninh, trật tự chung. Mọi chi phí phát sinh trong quá trình quá cảnh do phía nước đề nghị chi trả, trừ trường hợp có thỏa thuận riêng.
Trường hợp chuyến bay di chuyển qua không phận Việt Nam không có kế hoạch hạ cánh nhưng buộc phải hạ cánh đột xuất do sự cố kỹ thuật, thời tiết xấu hoặc sức khỏe của phạm nhân/nhân viên áp giải, Trưởng đoàn áp giải hoặc người chỉ huy tàu bay phải lập tức thông báo cho cơ quan quản lý xuất nhập cảnh tại sân bay. Lực lượng chức năng Việt Nam sẽ phối hợp ngay với đoàn áp giải để thực hiện các biện pháp quản lý, cách ly phạm nhân tại khu vực quy định trong thời gian chờ chuyến bay tiếp theo.
Không phải mọi đề nghị hỗ trợ di chuyển phạm nhân từ quốc gia khác đều được chấp thuận. Pháp luật Việt Nam quy định rõ các ranh giới đỏ nhằm bảo vệ công dân và chủ quyền quốc gia.
Theo khoản 3 Điều 6 Nghị định 171/2026/NĐ-CP, Bộ Công an sẽ từ chối cấp phép quá cảnh nếu thuộc một trong các trường hợp:
Bộ máy quản lý nhà nước về chuyển giao phạm nhân được vận hành thống nhất từ cấp Chính phủ đến các bộ, ngành chuyên trách.
Căn cứ Điều 13 Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù 2025, thẩm quyền và nhiệm vụ của từng cơ quan được quy định cụ thể như sau:
Thiết lập đúng trình tự thủ tục quá cảnh người đang chấp hành án phạt tù giúp hoạt động hợp tác tư pháp diễn ra minh bạch, an toàn và đúng chuẩn mực pháp lý quốc tế.