Trường hợp thi hành án dân sự chưa có điều kiện thi hành từ 01/7/2026 gồm những gì?
Thi hành án dân sự chưa có điều kiện thi hành là trạng thái pháp lý phát sinh khi người phải thi hành án không thể thực hiện nghĩa vụ do các nguyên nhân khách quan. Bài viết dưới đây sẽ phân tích chi tiết về 08 trường hợp cụ thể theo quy định mới, thẩm quyền của cơ quan thi hành án cấp tỉnh và thời hiệu yêu cầu thực thi bản án dân sự từ ngày 01/7/2026.
Chi tiết 08 trường hợp thi hành án dân sự chưa có điều kiện thi hành
Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 38 Luật Thi hành án dân sự 2025, kể từ ngày 01/7/2026, cơ quan chức năng sẽ xác định một vụ việc thuộc diện thi hành án dân sự chưa có điều kiện thi hành nếu rơi vào một trong các hoàn cảnh sau:
Người chịu trách nhiệm thi hành án hoàn toàn không sở hữu thu nhập hoặc thu nhập thực tế chỉ vừa đủ để duy trì mức sống tối thiểu cho bản thân cùng những người mà họ có nghĩa vụ nuôi dưỡng; song song đó, họ không có tài sản hoặc có tài sản nhưng giá trị còn lại chỉ đủ chi trả chi phí tổ chức cưỡng chế, hoặc tài sản đó thuộc danh mục pháp luật cấm kê biên, xử lý.
Bản án hoặc quyết định của Tòa án tuyên xử lý một tài sản cụ thể nhưng tại thời điểm tổ chức thi hành, cơ quan chức năng xác minh tài sản đó đã không còn, không tìm thấy nơi để động sản hoặc giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất tương ứng đã bị thu hồi (ngoại trừ trường hợp đối tượng có thu nhập hoặc tài sản khác để thay thế).
Cơ quan thi hành án chưa thể tìm ra địa chỉ cụ thể hoặc nơi cư trú thực tế của người được giao cho cá nhân khác nuôi dưỡng, hoặc của chính người được quyền giao nuôi dưỡng.
Nghĩa vụ bắt buộc là hoàn trả một vật đặc định nhưng vật này không còn tồn tại hoặc đã tổn thất, hư hỏng nặng đến mức không thể đưa vào sử dụng mà các bên đương sự không đạt được thỏa thuận thay thế; hoặc phải trả các loại giấy tờ nhưng giấy tờ đó không thể thu hồi, không thể cấp lại hoặc đã được bàn giao cho cơ quan ban hành theo khoản 2 Điều 59 Luật Thi hành án dân sự 2025.
Trách nhiệm thực hiện gắn liền trực tiếp với nhân thân của người phải thi hành án hoặc nghĩa vụ mà hệ thống pháp luật cấm chuyển giao cho người khác, nhưng đối tượng này đã bị Tòa án nhân dân tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.
Tài sản thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành án đang được dùng để cầm cố, thế chấp nhưng giá trị định giá thực tế thấp hơn tổng nghĩa vụ được bảo đảm cộng với chi phí cưỡng chế; hoặc tài sản xử lý theo điểm d khoản 3 Điều 78 Luật Thi hành án dân sự 2025 sau khi giảm giá vẫn bằng hoặc thấp hơn chi phí thi hành án và các nghĩa vụ bảo đảm (trừ trường hợp có tài sản hoặc nguồn thu nhập khác).
Tài sản bán theo khoản 3 Điều 83 Luật Thi hành án dân sự 2025 đã giảm giá xuống bằng hoặc thấp hơn chi phí tổ chức thi hành án mà người được hưởng quyền lợi từ chối nhận tài sản này để khấu trừ vào số tiền được thi hành án (trừ trường hợp đương sự có nguồn thu nhập hay tài sản khác).
Tài sản hợp pháp của người phải thi hành án hiện đang bị thu giữ hoặc xử lý để bảo toàn cho các khoản nợ xấu theo quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng, đồng thời đối tượng không còn bất kỳ nguồn thu nhập hay tài sản nào khác để thực hiện nghĩa vụ.
Người dân và doanh nghiệp cần chú ý, ngay khi xuất hiện một trong các căn cứ pháp lý nêu trên, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm ban hành quyết định chính thức về việc vụ việc chưa có điều kiện thi hành án trong thời hạn tối đa là 05 ngày làm việc.
Thẩm quyền giải quyết của cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh
Theo khoản 1 Điều 32 Luật Thi hành án dân sự 2025, cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được giao thẩm quyền tổ chức thực thi các văn bản pháp lý sau:
Các bản án, quyết định sơ thẩm do Tòa án nhân dân khu vực ban hành; các bản án hoặc quyết định sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh tại chính địa bàn cơ quan thi hành án đặt trụ sở.
Bản án, quyết định do Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao ban hành đối với các vụ việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh cùng địa bàn.
Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân tối cao đối với phán quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao nơi Tòa án cấp tỉnh đã xử sơ thẩm.
Văn bản quyết định do chính Tòa án nhân dân tối cao trực tiếp chuyển giao.
Quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, quyết định công nhận sự thỏa thuận, hòa giải thành do Tòa án nơi cơ quan thi hành án đặt trụ sở ban hành.
Các bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài hoặc phán quyết của Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án tại địa bàn công nhận và cho phép thi hành tại Việt Nam.
Phán quyết trọng tài hoặc các quyết định khẩn cấp tạm thời của Hội đồng trọng tài thuộc cùng địa bàn.
Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh hoặc quyết định giải quyết khiếu nại liên quan của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, Hội đồng giải quyết khiếu nại tương ứng.
Văn bản bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự thuộc địa phương khác ủy thác tới.
Quyết định áp dụng hình thức xử lý chuyển hướng bồi thường thiệt hại từ Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân cùng địa bàn.
Quyết định tuyên bố một doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản của Tòa án nhân dân khu vực nơi cơ quan thi hành án đặt trụ sở và các quyết định khác theo luật định.
Thời hiệu yêu cầu thực thi bản án dân sự được tính thế nào?
Vấn đề thời gian để đương sự nộp đơn yêu cầu cơ quan chức năng bảo vệ quyền lợi được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 34 Luật Thi hành án dân sự 2025 với các nguyên tắc sau:
Trường hợp áp dụng
Quy định về thời hiệu
Điều kiện thông thường
05 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực hoặc nghĩa vụ đến hạn.
Có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan
Không tính khoảng thời gian diễn ra sự kiện bất khả kháng vào thời hiệu.
Yêu cầu thi hành án trở lại sau khi cơ quan gửi lại yêu cầu