
Tạm giữ tài sản giấy tờ để thi hành án dân sự là một trong các biện pháp bảo đảm nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản. Bài viết làm rõ điều kiện áp dụng, người có thẩm quyền quyết định và các căn cứ chấm dứt biện pháp này theo Luật Thi hành án dân sự 2025.
Theo Điều 69 Luật Thi hành án dân sự 2025, biện pháp bảo đảm tạm giữ tài sản, giấy tờ được áp dụng khi các tài sản, giấy tờ đó đang do đương sự hoặc tổ chức, cá nhân khác quản lý, sử dụng. Mục đích của biện pháp là ngăn chặn đương sự chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, tẩu tán, hủy hoại, thay đổi hiện trạng tài sản hoặc trốn tránh nghĩa vụ thi hành án.
Quá trình thực hiện biện pháp này tuân theo các bước cơ bản sau:
Điều 66 Luật Thi hành án dân sự 2025 quy định người phải thi hành án có thể bị áp dụng một hoặc một số biện pháp bảo đảm nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh thi hành án, gồm:
Đối với biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ, Chấp hành viên là người có quyền tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của đương sự áp dụng ngay biện pháp này. Riêng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh thuộc thẩm quyền của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự. Điểm đáng lưu ý là khi áp dụng biện pháp bảo đảm, Chấp hành viên, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự không phải thông báo trước cho đương sự. Quy định này bảo đảm tính bất ngờ, tránh việc người phải thi hành án kịp thời tẩu tán tài sản trước khi biện pháp được thực thi.
Theo Điều 95 Luật Thi hành án dân sự 2025, quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm đương nhiên hết hiệu lực khi có quyết định đình chỉ thi hành án hoặc quyết định hủy bỏ việc áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế của người có thẩm quyền.
Ngoài ra, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo đảm quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 66 của Luật này (trong đó có tạm giữ tài sản, giấy tờ) phải ra quyết định chấm dứt áp dụng trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày có một trong các căn cứ:
Việc trả lại tài sản, giấy tờ sau khi chấm dứt áp dụng biện pháp bảo đảm được thực hiện theo quy định của Chính phủ.