
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, người bào chữa có những quyền nhất định trong quá trình tố tụng hình sự, đặc biệt là khi Điều tra viên lấy lời khai của bị can.
Điểm b khoản 1 Điều 73 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định rõ:
“Điều 73. Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa
1. Người bào chữa có quyền:
… b) Có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý thì được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can. Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa có thể hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can; …”
Theo đó, người bào chữa có quyền có mặt khi Điều tra viên lấy lời khai của bị can. Quan trọng hơn, người bào chữa **được quyền hỏi** bị can nếu được sự đồng ý của Điều tra viên.
Khoản 1 Điều 183 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định:
“Điều 183. Hỏi cung bị can
1. Việc hỏi cung bị can do Điều tra viên tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can. Có thể hỏi cung bị can tại nơi tiến hành điều tra hoặc tại nơi ở của người đó. Trước khi hỏi cung bị can, Điều tra viên phải thông báo cho Kiểm sát viên và người bào chữa thời gian, địa điểm hỏi cung. Khi xét thấy cần thiết, Kiểm sát viên tham gia việc hỏi cung bị can. …”
Điều này đảm bảo rằng người bào chữa phải được thông báo về thời gian và địa điểm hỏi cung để có thể thực hiện quyền của mình.
Như vậy, người bào chữa đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bị can trong quá trình tố tụng hình sự. Việc hiểu rõ các quy định của pháp luật giúp người bào chữa thực hiện tốt vai trò của mình.
Tham khảo thêm: Cổng thông tin điện tử Chính phủ