Căn cứ Điều 13 Bộ luật Lao động 2019 quy định:
Điều 13. Hợp đồng lao động
Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.
Trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 quy định:
Điều 2. Đối tượng áp dụng
Người lao động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bao gồm:
…
b) Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng;
Theo quy định trên, nếu hai bên ký hợp đồng mang tên gọi khác (như hợp đồng dịch vụ) nhưng nội dung thể hiện:
Có trả công, tiền lương,
Có sự quản lý, giám sát, điều hành của một bên đối với bên còn lại,
→ thì hợp đồng đó được coi là hợp đồng lao động.
Trong trường hợp công ty ký hợp đồng dịch vụ với cá nhân để làm công việc bảo vệ, vệ sinh và các cá nhân này không có đăng ký kinh doanh, không đủ điều kiện cung cấp dịch vụ độc lập, thì trên thực tế đây là mối quan hệ lao động, không phải là hợp đồng dịch vụ đúng nghĩa.
🔹 Nếu hợp đồng dịch vụ thực chất là hợp đồng lao động (có trả công, quản lý, giám sát):
👉 Phải tham gia BHXH bắt buộc nếu thời hạn hợp đồng từ 01 tháng trở lên.
🔹 Nếu ký hợp đồng dịch vụ với cá nhân không có đăng ký kinh doanh → rất dễ bị cơ quan chức năng đánh giá lại là hợp đồng lao động → vẫn phải đóng BHXH.