
Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, giúp người phạm tội được cải tạo tại cộng đồng dưới sự giám sát của chính quyền địa phương. Tuy nhiên, để bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, chấp hành án không chỉ dừng lại ở việc ở tại nơi cư trú mà đòi hỏi chấp hành viên phải tuân thủ kỷ luật nghiêm ngặt. Việc nắm rõ khung nghĩa vụ mới giúp người được hưởng án treo chủ động thực hiện đúng quy định, tránh rủi ro vi phạm bị kiểm điểm hoặc hủy bỏ án treo.
Chế định thi hành án treo ghi nhận nhiều bước điều chỉnh chặt chẽ nhằm tăng cường hiệu quả giám sát tại cơ sở. Căn cứ theo Điều 82 Luật Thi hành án hình sự 2025, người được hưởng án treo phải hoàn thành các nghĩa vụ sau đây trong suốt thời gian thử thách:
Song song với nghĩa vụ bắt buộc, pháp luật thể hiện tính nhân đạo khi mở ra cơ hội rút ngắn thời gian thử thách cho những cá nhân tích cực sửa chữa lỗi lầm, lập công hoặc chấp hành tốt kỷ luật. Căn cứ khoản 1 Điều 84 Luật Thi hành án hình sự 2025, điều kiện xét giảm thời gian thử thách bao gồm:
Thủ tục xét giảm thời gian thử thách được chuẩn hóa theo quy trình chặt chẽ để đảm bảo tính khách quan và công bằng. Cụ thể, Điều 85 Luật Thi hành án hình sự 2025 quy định các bước thực hiện như sau:
Việc xét rút ngắn thời gian thử thách cho người được hưởng án treo được tổ chức định kỳ mỗi năm 03 đợt, rơi vào các dịp lễ lớn: Tết Dương lịch, Ngày Chiến thắng (30/4) và Ngày Quốc khánh (2/9).
Cơ sở quản lý ban đầu là Công an cấp xã hoặc đơn vị quân đội thực hiện rà soát, lập danh sách người đủ điều kiện gửi cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu. Trong 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận báo cáo, cơ quan thi hành án hình sự cấp tỉnh/quân khu tiến hành lập hồ sơ và chuyển văn bản đề nghị sang Tòa án và Viện kiểm sát cùng cấp. Nếu không đủ điều kiện, phải thông báo bằng văn bản cho nơi quản lý ban đầu.
Hồ sơ trình Tòa án xem xét bao gồm các tài liệu bắt buộc sau:
| STT | Loại giấy tờ trong hồ sơ |
|---|---|
| 1 | Văn bản đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cấp quân khu. |
| 2 | Đơn đề nghị rút ngắn thời gian thử thách do chính người được hưởng án treo viết. |
| 3 | Bản sao bản án (Trường hợp xét rút ngắn từ lần thứ hai trở đi thì thay bằng bản sao quyết định thi hành án treo). |
| 4 | Báo cáo đề nghị của Công an cấp xã hoặc đơn vị quân đội trực tiếp quản lý, giám sát. |
| 5 | Quyết định khen thưởng hoặc xác nhận lập công của cơ quan có thẩm quyền (nếu có); hoặc kết luận/xác nhận tình trạng bệnh hiểm nghèo của cơ sở khám chữa bệnh cấp cơ bản trở lên. |
| 6 | Bản sao quyết định rút ngắn thời gian thử thách (đối với người đã từng được giảm thời gian trước đó). |
Trong 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Chánh án Tòa án nhân dân khu vực hoặc Tòa án quân sự khu vực phân công 01 Thẩm phán chủ trì phiên họp. Trong thời hạn 05 ngày làm việc tiếp theo, Thẩm phán mở phiên họp (có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp) và ban hành quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận đề nghị. Quyết định được gửi cho người chấp hành án, Viện kiểm sát và các cơ quan liên quan trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ban hành.
Người được hưởng án treo cần chú ý giữ gìn kỷ luật, thực hiện báo cáo định kỳ đúng hạn để vừa được bảo đảm quyền lợi sinh hoạt tại địa phương, vừa đủ điều kiện rút ngắn thời gian thử thách theo quy định pháp luật.