
Khi một doanh nghiệp chế xuất (DNCX) có sự điều chỉnh về số lượng nguyên liệu và vật tư sử dụng để sản xuất hàng hóa xuất khẩu, liệu có cần phải thực hiện thủ tục thông báo với cơ quan chức năng hay không? Vấn đề này được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật hiện hành, đảm bảo tính minh bạch và tuân thủ trong hoạt động sản xuất, xuất nhập khẩu.
Theo quy định tại Điều 60 Thông tư 38/2015/TT-BTC (đã được sửa đổi bởi khoản 39 Điều 1 Thông tư 39/2018/TT-BTC), các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực gia công và sản xuất hàng xuất khẩu, bao gồm cả DNCX, có trách nhiệm cung cấp thông tin chi tiết liên quan đến quá trình nhập kho, xuất kho nguyên liệu, vật tư, cũng như nhập kho và xuất kho thành phẩm. Việc này được thực hiện thông qua hệ thống quản trị sản xuất của doanh nghiệp, kết nối trực tiếp với Chi cục Hải quan nơi doanh nghiệp đã đăng ký cơ sở sản xuất.
Cụ thể, doanh nghiệp cần cung cấp các thông tin theo mẫu số 30 Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư 38/2015/TT-BTC. Thông tin này phải được cập nhật ngay khi có sự thay đổi trong quá trình sản xuất, liên quan đến các chỉ tiêu đã được quy định.
Trước khi bắt đầu trao đổi thông tin với cơ quan hải quan, doanh nghiệp cần thực hiện chốt số lượng tồn kho đầu kỳ đối với nguyên liệu, vật tư và sản phẩm với Chi cục Hải quan nơi đã thông báo cơ sở sản xuất. Cơ quan hải quan sẽ công bố chuẩn dữ liệu để đảm bảo việc trao đổi thông tin diễn ra thuận lợi và chính xác.
Trên cơ sở thông tin do doanh nghiệp cung cấp, cơ quan hải quan sẽ tiến hành phân tích, đánh giá tính phù hợp của dữ liệu. Nếu phát hiện dấu hiệu bất thường hoặc có yêu cầu kiểm tra theo quy định, cơ quan hải quan sẽ tiến hành kiểm tra tình hình sử dụng, tồn kho nguyên liệu, vật tư, máy móc thiết bị và hàng hóa xuất khẩu tại doanh nghiệp.
Ví dụ: Một DNCX sản xuất hàng may mặc xuất khẩu, ban đầu dự kiến sử dụng 1.5 mét vải cho một áo. Tuy nhiên, do thay đổi thiết kế, lượng vải sử dụng thực tế tăng lên 1.7 mét. DNCX này cần ngay lập tức cập nhật thông tin này lên hệ thống để đảm bảo tính chính xác trong báo cáo với cơ quan hải quan.
Việc miễn thuế cho hàng hóa nhập khẩu phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu được quy định tại khoản 6 Điều 1 Nghị định 18/2021/NĐ-CP sửa đổi Điều 12 Nghị định 134/2016/NĐ-CP. Theo đó, các loại hàng hóa sau đây được miễn thuế nhập khẩu:
Để được hưởng ưu đãi này, doanh nghiệp cần chứng minh quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp đối với cơ sở sản xuất, máy móc, thiết bị trên lãnh thổ Việt Nam, đồng thời thực hiện thông báo về cơ sở sản xuất, gia công cho cơ quan hải quan theo quy định.
Quy trình tiêu hủy phế liệu, phế phẩm phát sinh trong quá trình sản xuất hàng xuất khẩu được quy định tại Điều 72 Thông tư 38/2015/TT-BTC. Theo đó, thủ tục tiêu hủy được thực hiện tương tự như thủ tục tiêu hủy nguyên liệu, vật tư dư thừa, phế liệu, phế phẩm gia công, được quy định cụ thể tại điểm d khoản 3 Điều 64 của Thông tư này.
Doanh nghiệp có trách nhiệm đảm bảo việc tiêu hủy được thực hiện đúng quy định của pháp luật, bảo vệ môi trường và tránh gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tóm lại, việc tuân thủ các quy định về thông báo thay đổi nguyên liệu, vật tư, cũng như các quy định về miễn thuế và tiêu hủy phế liệu, phế phẩm là vô cùng quan trọng đối với các DNCX. Điều này không chỉ giúp doanh nghiệp hoạt động hợp pháp, minh bạch, mà còn tối ưu hóa chi phí và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.