
Theo quy định của pháp luật hiện hành, sự kiện cha mẹ nuôi chết không thuộc các căn cứ làm chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi.
Căn cứ Điều 25 Luật Nuôi con nuôi 2010, việc nuôi con nuôi chỉ bị chấm dứt khi có một trong các căn cứ pháp lý sau đây:
1. Con nuôi đã thành niên và cha mẹ nuôi tự nguyện thỏa thuận chấm dứt việc nuôi con nuôi;
2. Con nuôi bị tòa án kết án về một trong các tội danh cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của cha mẹ nuôi; hoặc có hành vi ngược đãi, hành hạ cha mẹ nuôi, phá tán tài sản của cha mẹ nuôi;
3. Cha mẹ nuôi bị tòa án kết án về một trong các tội danh cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con nuôi; hoặc có hành vi ngược đãi, hành hạ con nuôi;
4. Vi phạm các quy định cấm được quy định tại Điều 13 Luật Nuôi con nuôi 2010.
| Điều 13 Luật Nuôi con nuôi 2010 – Các hành vi bị cấm
1. Lợi dụng việc nuôi con nuôi để trục lợi, bóc lột sức lao động, xâm hại tình dục; bắt cóc, mua bán trẻ em. 2. Giả mạo giấy tờ để giải quyết việc nuôi con nuôi. 3. Phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi. 4. Lợi dụng việc cho con nuôi để vi phạm pháp luật về dân số. 5. Lợi dụng việc làm con nuôi của thương binh, người có công với cách mạng, người thuộc dân tộc thiểu số để hưởng chế độ, chính sách ưu đãi của Nhà nước. 6. Ông, bà nhận cháu làm con nuôi hoặc anh, chị, em nhận nhau làm con nuôi. 7. Lợi dụng việc nuôi con nuôi để vi phạm pháp luật, phong tục tập quán, đạo đức, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc. |
Cha mẹ nuôi chết có chấm dứt việc nuôi con nuôi không? Căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi theo quy định hiện hành?
Căn cứ Điều 26 Luật Nuôi con nuôi 2010, các chủ thể có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền chấm dứt việc nuôi con nuôi bao gồm:
1. Cha mẹ nuôi.
2. Con nuôi đã tiến hành thành niên.
3. Cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ hợp pháp của con nuôi.
4. Cơ quan lao động, thương binh và xã hội hoặc Hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi khi xuất hiện các căn cứ quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 25 của Luật này.
Như vậy, cha mẹ đẻ của con nuôi hoàn toàn có quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi theo quy định pháp luật.
Theo quy định tại Điều 27 Luật Nuôi con nuôi 2010, hệ quả phát sinh khi chấm dứt việc nuôi con nuôi được xác định như sau:
– Quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa cha mẹ nuôi và con nuôi chính thức chấm dứt kể từ ngày quyết định chấm dứt nuôi con nuôi của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
– Đối với con nuôi là người chưa thành niên hoặc người đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động, Tòa án sẽ quyết định giao cho cha mẹ đẻ hoặc tổ chức, cá nhân khác chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục nhằm bảo đảm lợi ích tốt nhất cho đối tượng này.
– Khi con nuôi được giao lại cho cha mẹ đẻ, các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đẻ vốn đã chấm dứt trước đó theo quy định tại khoản 4 Điều 24 Luật Nuôi con nuôi 2010 sẽ được khôi phục.
– Về tài sản: Con nuôi được nhận lại tài sản riêng của mình. Trường hợp con nuôi có công lao đóng góp vào khối tài sản chung của cha mẹ nuôi thì được hưởng phần tài sản tương xứng theo thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
– Con nuôi có quyền cải chính, lấy lại họ và tên của mình như trước khi được nhận làm con nuôi.
Toàn văn Dự thảo Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi) chi tiết ra sao? Tải về Dự thảo Luật Nuôi con nuôi?
Căn cứ Điều 48 Nghị định 109/2026/NĐ-CP, mức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực nuôi con nuôi được quy định cụ thể:
1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với các hành vi:
– Khai không đúng sự thật để tiến hành đăng ký việc nuôi con nuôi;
– Có hành vi phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi;
– Không thực hiện nghĩa vụ báo cáo định kỳ về tình hình phát triển của con nuôi trong nước;
– Tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung các loại giấy tờ, văn bản do cơ quan có thẩm quyền cấp để làm thủ tục đăng ký nuôi con nuôi.
2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với các hành vi:
– Lợi dụng việc cho con nuôi nhằm mục đích vi phạm pháp luật về dân số;
– Lợi dụng việc làm con nuôi của thương binh, người có công với cách mạng, người thuộc dân tộc thiểu số để trục lợi, hưởng các chế độ, chính sách ưu đãi của nhà nước.
3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với các hành vi:
– Mua chuộc, ép buộc, đe dọa hoặc dùng thủ đoạn trái pháp luật để buộc người có quyền đồng ý cho trẻ em làm con nuôi phải chấp thuận;
– Lợi dụng việc cho, nhận hoặc giới thiệu trẻ em làm con nuôi để trục lợi, trừ trường hợp bị xử phạt về hành vi bóc lột sức lao động;
– Lợi dụng việc nhận nuôi con nuôi nhằm mục đích bóc lột sức lao động của con nuôi.
4. Hình thức xử phạt bổ sung:
– Tịch thu tang vật vi phạm là văn bản, giấy tờ bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung nội dung.
5. Biện pháp khắc phục hậu quả:
– Buộc nộp lại bản chính giấy tờ, văn bản bị tẩy xóa, sửa chữa cho cơ quan có thẩm quyền đã cấp, trừ trường hợp đã bị tịch thu tang vật;
– Kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét, hủy bỏ hoặc xử lý đối với các giấy tờ, văn bản đã cấp do có hành vi khai sai sự thật hoặc tẩy xóa giấy tờ;
– Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm trục lợi hoặc hưởng sai chế độ ưu đãi;
– Buộc chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh và các chi phí phát sinh khác do hành vi bóc lột sức lao động của con nuôi gây ra.