Doanh thu tính thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động kinh doanh dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh được xác định ra sao?
Căn cứ theo quy định tại điểm l khoản 3 Điều 8 Nghị định 320/2025/NĐ-CP, doanh thu để tính thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động kinh doanh dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) được xác định cụ thể là toàn bộ số tiền thu được từ việc bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ theo thỏa thuận tại hợp đồng.
Pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp phân định phương thức xác định doanh thu tính thuế dựa trên các hình thức phân chia kết quả kinh doanh cụ thể như sau:
Trường hợp các bên tham gia hợp đồng BCC lựa chọn hình thức phân chia kết quả kinh doanh bằng doanh thu bán hàng hóa, dịch vụ thì doanh thu tính thuế của từng bên được xác định tương ứng với phần doanh thu được chia theo thỏa thuận trong hợp đồng.
Trường hợp các bên tham gia hợp đồng BCC lựa chọn hình thức phân chia kết quả kinh doanh bằng sản phẩm thì doanh thu tính thuế được xác định dựa trên doanh thu của lượng sản phẩm được chia cho từng bên theo quy định tại hợp đồng.
Thời điểm xác định doanh thu tính thuế thu nhập doanh nghiệp quy định thế nào?
Căn cứ theo Điều 5 Thông tư 20/2026/TT-BTC hướng dẫn chi tiết về thời điểm xác định doanh thu tính thuế thu nhập doanh nghiệp đối với một số trường hợp đặc thù thuộc điểm c khoản 2 Điều 8 và khoản 3 Điều 12 Nghị định 320/2025/NĐ-CP, cụ thể gồm:
Đối với các tổ chức kinh tế được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam
Đối với hoạt động kinh doanh hàng hóa xuất khẩu: Là ngày chuyển giao quyền sở hữu đối với hàng hóa theo quy định tại hợp đồng xuất khẩu. Trường hợp không thể xác định cụ thể thời điểm chuyển giao quyền sở hữu, thời điểm này sẽ được căn cứ dựa trên các quy định về cơ sở xác định hàng hóa xuất khẩu của pháp luật về hải quan.
Đối với hoạt động kinh doanh vận tải hàng không: Là thời điểm hoàn thành việc cung ứng dịch vụ vận chuyển cho khách hàng.
Đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt (bao gồm cả ngành đóng tàu): Là thời điểm thực hiện nghiệm thu công trình, hạng mục công trình hoặc nghiệm thu khối lượng xây dựng, lắp đặt hoàn thành, không phụ thuộc vào việc doanh nghiệp đã thu được tiền hay chưa.
Đối với hoạt động cung cấp năng lượng điện và nước sạch: Là ngày thực hiện xác nhận chỉ số công tơ điện, nước ghi trên hóa đơn thanh toán.
Đối với các doanh nghiệp nước ngoài
Đối với hoạt động chuyển nhượng vốn: Là thời điểm hợp đồng chuyển nhượng vốn ban đầu bắt đầu phát sinh hiệu lực pháp luật.
Đối với hoạt động chuyển nhượng chứng khoán hoặc chứng chỉ tiền gửi: Là thời điểm thực hiện giao dịch chuyển nhượng.
Đối với hoạt động chuyển nhượng các loại chứng khoán phái sinh dưới hình thức hợp đồng tương lai: Là thời điểm hệ thống giao dịch của Sở Giao dịch chứng khoán ghi nhận lệnh mua, bán hợp đồng tương lai của nhà đầu tư được khớp hoặc là thời điểm hợp đồng tương lai đến hạn đáo hạn.
Các khoản thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm những gì?
Dựa trên quy định tại Điều 3 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025, các khoản thu nhập cấu thành thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm:
Thu nhập từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh các loại hàng hóa, dịch vụ và các khoản thu nhập khác phát sinh ngoài hoạt động kinh doanh trực tiếp.
Các khoản thu nhập khác của doanh nghiệp được pháp luật quy định cụ thể bao gồm:
Thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng quyền góp vốn kinh doanh hoặc chuyển nhượng chứng khoán;
Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, loại trừ trường hợp thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản của các tổ chức có chức năng kinh doanh bất động sản;
Thu nhập từ chuyển nhượng dự án đầu tư, chuyển nhượng quyền tham gia các dự án đầu tư, chuyển nhượng quyền thăm dò, khai thác hoặc chế biến các loại khoáng sản;
Thu nhập từ việc chuyển nhượng, cho thuê hoặc thanh lý các loại tài sản, bao gồm cả các loại giấy tờ có giá, ngoại trừ tài sản là bất động sản;
Thu nhập phát sinh từ quyền sử dụng, quyền sở hữu tài sản, bao gồm cả thu nhập từ quyền sở hữu trí tuệ và hoạt động chuyển giao công nghệ;
Thu nhập từ lãi tiền gửi, lãi cho vay vốn hoặc hoạt động bán ngoại tệ, loại trừ thu nhập từ hoạt động tín dụng chuyên nghiệp của các tổ chức tín dụng;
Các khoản chi phí đã trích trước nhưng không sử dụng hoặc sử dụng không hết mà doanh nghiệp không thực hiện hạch toán điều chỉnh giảm chi phí được trừ; các khoản nợ khó đòi đã thực hiện xóa nợ nay thu hồi được; các khoản nợ phải trả nhưng không xác định được chủ nợ; các khoản thu nhập từ hoạt động kinh doanh của các năm trước bị bỏ sót nay mới phát hiện ra;
Khoản chênh lệch thu được từ tiền phạt, tiền bồi thường do đối tác vi phạm hợp đồng kinh tế hoặc các khoản tiền thưởng do thực hiện tốt các cam kết theo hợp đồng;
Các khoản tài trợ hoặc tặng cho bằng tiền, bằng hiện vật mà doanh nghiệp nhận được;
Khoản chênh lệch phát sinh do thực hiện đánh giá lại tài sản theo quy định pháp luật để phục vụ việc góp vốn, điều chuyển tài sản khi sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi chủ sở hữu hoặc chuyển đổi loại hình doanh nghiệp;
Thu nhập phát sinh từ việc tham gia các hợp đồng hợp tác kinh doanh;
Thu nhập từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thực hiện tại nước ngoài;
Thu nhập của các đơn vị sự nghiệp công lập phát sinh từ hoạt động cho thuê đối với tài sản công;
Các khoản thu nhập hợp pháp khác, ngoại trừ các khoản thu nhập được áp dụng chính sách miễn thuế quy định tại Điều 4 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025.
Đối với các doanh nghiệp nước ngoài, thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam là khoản thu nhập nhận được có nguồn gốc từ Việt Nam, không phụ thuộc vào địa điểm thực tế diễn ra hoạt động kinh doanh.
Doanh nghiệp Việt Nam thực hiện hoạt động đầu tư tại nước ngoài có phát sinh thu nhập từ sản xuất, kinh doanh tại nước ngoài trong kỳ tính thuế được thực hiện khấu trừ số thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp tại nước tiếp nhận đầu tư vào số thuế phải nộp tại Việt Nam. Số thuế được khấu trừ tối đa không vượt quá số thuế thu nhập doanh nghiệp tính theo quy định của pháp luật thuế Việt Nam.
Trường hợp doanh nghiệp thuộc đối tượng phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung tối thiểu toàn cầu theo quy định, khoản thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung phải nộp này sẽ được thực hiện khấu trừ vào số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp tại Việt Nam căn cứ theo quy định của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025.