Thuế giá trị gia tăng đối với nhà thầu nước ngoài năm 2026 được quy định thế nào?

Thuế giá trị gia tăng đối với nhà thầu nước ngoài năm 2026 được quy định thế nào?

Thuế giá trị gia tăng áp dụng với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam áp dụng cho đối tượng nào?

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 9 Thông tư 69/2025/TT-BTC, nghĩa vụ thuế giá trị gia tăng áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân nước ngoài có hoạt động sản xuất, kinh doanh tại thị trường Việt Nam (gọi chung là nhà thầu nước ngoài, nhà thầu phụ nước ngoài) được xác định cho các đối tượng cụ thể sau:

  • Tổ chức nước ngoài hoạt động kinh doanh có cơ sở thường trú hoặc không có cơ sở thường trú tại Việt Nam; cá nhân nước ngoài kinh doanh là đối tượng cư trú hoặc không cư trú tại Việt Nam thực hiện hoạt động kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam.
  • Tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện một phần hoặc toàn bộ hoạt động phân phối hàng hóa, cung ứng dịch vụ tại Việt Nam mà vẫn nắm giữ quyền sở hữu đối với hàng hóa giao cho đối chức, cá nhân Việt Nam; hoặc chịu trách nhiệm về các chi phí phân phối, quảng cáo, tiếp thị, chất lượng dịch vụ, chất lượng hàng hóa; hoặc có thẩm quyền ấn định giá bán hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ. Quy định này bao gồm cả trường hợp ủy quyền hoặc thuê tổ chức, cá nhân Việt Nam thực hiện một phần dịch vụ phân phối hoặc dịch vụ khác liên quan đến việc tiêu thụ hàng hóa.
  • Tổ chức, cá nhân nước ngoài thông qua tổ chức, cá nhân Việt Nam để tiến hành đàm phán, ký kết các hợp đồng kinh tế đứng tên tổ chức, cá nhân nước ngoài đó.
  • Tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu, phân phối tại thị trường Việt Nam hoặc mua hàng hóa để xuất khẩu, bán hàng hóa cho thương nhân Việt Nam theo quy định của pháp luật thương mại.

Thuế giá trị gia tăng áp dụng với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam không áp dụng đối với đối tượng nào?

Theo khoản 2 Điều 9 Thông tư 69/2025/TT-BTC, cơ chế thuế này không áp dụng đối với các trường hợp sau:

  • Các tổ chức được thành lập và hoạt động hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam.
  • Tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện cung cấp hàng hóa cho tổ chức, cá nhân Việt Nam không kèm theo dịch vụ được thực hiện tại Việt Nam dưới hình thức giao hàng tại cửa khẩu nước ngoài. Theo đó, người bán chịu mọi trách nhiệm, chi phí và rủi ro phát sinh liên quan đến việc xuất khẩu và giao hàng tại cửa khẩu nước ngoài; người mua chịu mọi trách nhiệm, chi phí và rủi ro liên quan đến việc nhận hàng, vận chuyển hàng từ cửa khẩu nước ngoài về Việt Nam (bao gồm cả trường hợp có kèm theo điều khoản bảo hành thuộc trách nhiệm của người bán).
  • Tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện cung cấp hàng hóa cho tổ chức, cá nhân Việt Nam không kèm theo dịch vụ được thực hiện tại Việt Nam dưới hình thức giao hàng tại cửa khẩu Việt Nam. Người bán chịu các trách nhiệm, chi phí, rủi ro liên quan đến hàng hóa cho đến điểm giao hàng tại cửa khẩu Việt Nam; người mua chịu mọi trách nhiệm, chi phí và rủi ro về việc nhận hàng, vận chuyển từ cửa khẩu Việt Nam (bao gồm cả trường hợp có kèm theo điều khoản bảo hành thuộc nghĩa vụ của người bán).
  • Tổ chức, cá nhân nước ngoài cung cấp dịch vụ sửa chữa (có hoặc không bao gồm vật tư, thiết bị thay thế đi kèm) phương tiện vận tải, máy móc, thiết bị (kể cả đường cáp biển, thiết bị truyền dẫn) cho tổ chức, cá nhân Việt Nam mà dịch vụ này được thực hiện ở nước ngoài.
  • Tổ chức, cá nhân nước ngoài cung cấp dịch vụ quảng cáo, tiếp thị (trừ hoạt động quảng cáo, tiếp thị trên môi trường internet) cho tổ chức, cá nhân Việt Nam mà dịch vụ này được thực hiện ở nước ngoài.
  • Tổ chức, cá nhân nước ngoài cung cấp dịch vụ xúc tiến đầu tư và thương mại cho tổ chức, cá nhân Việt Nam mà dịch vụ này được thực hiện ngoài lãnh thổ Việt Nam.
  • Tổ chức, cá nhân nước ngoài cung cấp dịch vụ môi giới bán hàng hóa, môi giới cung cấp dịch vụ ra nước ngoài cho tổ chức, cá nhân Việt Nam mà dịch vụ này được thực hiện ở nước ngoài.
  • Tổ chức, cá nhân nước ngoài cung cấp dịch vụ đào tạo (trừ hình thức đào tạo trực tuyến) cho tổ chức, cá nhân Việt Nam mà dịch vụ này được thực hiện ở nước ngoài.
  • Tổ chức, cá nhân nước ngoài cung cấp dịch vụ chia cước (cước thanh toán) dịch vụ viễn thông quốc tế giữa Việt Nam và nước ngoài; dịch vụ thuê đường truyền dẫn và băng tần vệ tinh của nước ngoài theo Luật Viễn thông; dịch vụ chia cước bưu chính quốc tế giữa Việt Nam với nước ngoài theo Luật Bưu chính và các điều ước quốc tế liên quan mà các dịch vụ này được thực hiện ở nước ngoài.
  • Tổ chức, cá nhân nước ngoài sử dụng hệ thống kho ngoại quan, cảng nội địa (ICD) làm kho lưu trữ hàng hóa nhằm mục đích phụ trợ cho hoạt động vận tải quốc tế, quá cảnh, chuyển khẩu hoặc để doanh nghiệp khác tiến hành gia công.
  • Tổ chức, cá nhân nước ngoài cung cấp hàng hóa, dịch vụ khác cho tổ chức, cá nhân Việt Nam mà việc thực hiện diễn ra tại nước ngoài và không tiêu dùng trên lãnh thổ Việt Nam.

Quy định về hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng áp dụng đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam?

Căn cứ khoản 3 Điều 9 Thông tư 69/2025/TT-BTC, đối tượng chịu thuế được xác định như sau:

  • Dịch vụ hoặc dịch vụ gắn liền với hàng hóa thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng do nhà thầu nước ngoài, nhà thầu phụ nước ngoài cung ứng dựa trên hợp đồng nhà thầu, hợp đồng nhà thầu phụ nhằm phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng, được cung cấp tại Việt Nam và tiêu dùng tại Việt Nam.
  • Dịch vụ hoặc dịch vụ gắn liền with hàng hóa thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng do nhà thầu nước ngoài, nhà thầu phụ nước ngoài cung ứng dựa trên hợp đồng nhà thầu, hợp đồng nhà thầu phụ nhằm phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng, được cung cấp ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng tiêu dùng tại Việt Nam.
  • Trường hợp hàng hóa được cung cấp theo hợp đồng có điểm giao nhận nằm trong lãnh thổ Việt Nam hoặc việc cung cấp hàng hóa có kèm theo các dịch vụ thực hiện tại Việt Nam như lắp đặt, vận hành thử, bảo hành, bảo dưỡng, thay thế vật tư (bao gồm cả dịch vụ miễn phí đi kèm), dù giá trị dịch vụ có tách riêng hay gộp trong giá trị hợp đồng cung cấp hàng hóa, thì giá trị hàng hóa chỉ chịu thuế giá trị gia tăng ở khâu nhập khẩu; phần giá trị dịch vụ sẽ chịu thuế giá trị gia tăng theo quy định tại Thông tư này. Trường hợp hợp đồng không thể bóc tách riêng biệt giá trị hàng hóa và giá trị dịch vụ đi kèm thì thuế giá trị gia tăng được tính chung trên toàn bộ tổng giá trị hợp đồng.

Cách xác định số thuế giá trị gia tăng phải nộp đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam được quy định ra sao?

Khoản 4 Điều 9 Thông tư 69/2025/TT-BTC quy định phương pháp tính trực tiếp trên doanh thu như sau:

  • Số thuế giá trị gia tăng phải nộp theo phương pháp tính trực tiếp trên doanh thu được xác định dựa trên doanh thu tính thuế và tỷ lệ phần trăm quy định cho từng ngành nghề. Trong đó, doanh thu tính thuế là toàn bộ số tiền mà nhà thầu nước ngoài, nhà thầu phụ nước ngoài nhận được từ việc cung ứng dịch vụ, dịch vụ gắn với hàng hóa thuộc diện chịu thuế, chưa trừ các khoản thuế phải nộp, bao gồm cả các chi phí do phía bên Việt Nam chi trả thay (nếu có) theo quy định tại Điều 13 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP.
  • Công thức xác định: Số thuế giá trị gia tăng phải nộp bằng doanh thu tính thuế giá trị gia tăng nhân với tỷ lệ phần trăm tính thuế giá trị gia tăng trên doanh thu.
  • Nhà thầu nước ngoài, nhà thầu phụ nước ngoài nộp thuế theo phương pháp trực tiếp không được áp dụng cơ chế khấu trừ thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào để thực hiện hợp đồng nhà thầu, hợp đồng nhà thầu phụ.

Doanh thu tính thuế giá trị gia tăng đối với một số trường hợp cụ thể được xác định như thế nào?

Căn cứ khoản 5 Điều 9 Thông tư 69/2025/TT-BTC, doanh thu tính thuế trong các trường hợp đặc thù được quy định cụ thể:

  • Trường hợp hợp đồng quy định doanh thu nhà thầu nước ngoài, nhà thầu phụ nước ngoài nhận được chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng phải nộp, thì phải thực hiện quy đổi sang doanh thu đã bao gồm thuế giá trị gia tăng theo công thức quy định: Doanh thu tính thuế giá trị gia tăng bằng doanh thu không bao gồm thuế giá trị gia tăng chia cho hiệu số của 1 trừ đi tỷ lệ phần trăm để tính thuế giá trị gia tăng trên doanh thu.
  • Trường hợp nhà thầu nước ngoài ký hợp đồng giao bớt một phần công việc hoặc hạng mục cho nhà thầu phụ Việt Nam hoặc nhà thầu phụ nước ngoài (với điều kiện các nhà thầu phụ này nộp thuế theo phương pháp khấu trừ) và nội dung này kèm danh sách nhà thầu phụ được thể hiện rõ tại hợp đồng nhà thầu ký với bên Việt Nam, thì doanh thu tính thuế của nhà thầu nước ngoài không bao gồm phần giá trị công việc do các nhà thầu phụ này thực hiện. Nếu nhà thầu nước ngoài mua nguyên vật liệu, thiết bị tại Việt Nam để thực hiện hợp đồng hoặc mua hàng hóa, dịch vụ phục vụ tiêu dùng nội bộ không thuộc hạng mục thực hiện hợp đồng thì các khoản này không được trừ khi xác định doanh thu tính thuế.
  • Trường hợp nhà thầu nước ngoài ký hợp đồng với nhà thầu phụ nước ngoài nộp thuế theo phương pháp trực tiếp, bên Việt Nam có trách nhiệm kê khai và nộp thay thuế giá trị gia tăng theo tỷ lệ phần trăm trên doanh thu tương ứng với ngành nghề kinh doanh. Nhà thầu nước ngoài, nhà thầu phụ nước ngoài không phải tái khai nộp thuế đối với phần giá trị mà bên Việt Nam đã nộp thay.
  • Đối với hoạt động cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, doanh thu tính thuế là toàn bộ tiền thuê. Nếu tiền thuê bao gồm các chi phí bên cho thuê trực tiếp trả như bảo hiểm, bảo dưỡng, đăng kiểm, người vận hành, chi phí vận chuyển máy móc từ nước ngoài vào Việt Nam thì doanh thu tính thuế được trừ các khoản này khi có chứng từ thực tế chứng minh.
  • Đối với dịch vụ giao nhận, kho vận quốc tế chiều từ Việt Nam đi nước ngoài, doanh thu tính thuế là toàn bộ doanh thu nhận được, loại trừ cước vận chuyển quốc tế phải chi trả cho hãng vận tải hàng không hoặc đường biển.
  • Đối với dịch vụ chuyển phát quốc tế chiều từ Việt Nam đi nước ngoài, doanh thu tính thuế là toàn bộ doanh thu mà nhà thầu nước ngoài nhận được.

Doanh thu tính thuế giá trị gia tăng đối với một số trường hợp cụ thể được xác định như thế nào?

Tỷ lệ % để tính thuế giá trị gia tăng trên doanh thu đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam được quy định thế nào?

Theo khoản 6 Điều 9 Thông tư 69/2025/TT-BTC, tỷ lệ phần trăm tính thuế trên doanh thu được xác định như sau:

  • Tỷ lệ phần trăm tính thuế trên doanh thu đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam (ngoại trừ các dịch vụ cung cấp qua thương mại điện tử và nền tảng số) áp dụng theo điểm b khoản 2 Điều 12 Luật Thuế giá trị gia tăng và Điều 5 Thông tư này.
  • Đối với hợp đồng gồm nhiều hoạt động kinh doanh hỗn hợp hoặc có phần giá trị không chịu thuế giá trị gia tăng, thuế sẽ được tính tách riêng theo doanh thu của từng hoạt động. Trường hợp không bóc tách được giá trị cụ thể của từng hoạt động kinh doanh thì áp dụng tỷ lệ phần trăm cao nhất của ngành nghề sản xuất kinh doanh có trong hợp đồng cho toàn bộ giá trị hợp đồng đó.
  • Riêng hoạt động xây dựng, lắp đặt có bao thầu nguyên vật liệu hoặc thiết bị đi kèm công trình: Nếu tách riêng được giá trị từng hoạt động, nhà thầu nước ngoài không phải nộp thuế giá trị gia tăng đối với phần nguyên vật liệu, thiết bị đã nộp thuế ở khâu nhập khẩu hoặc thuộc đối tượng không chịu thuế; phần giá trị công việc còn lại áp dụng tỷ lệ tương ứng. Nếu không tách riêng được, áp dụng tỷ lệ là 3% trên toàn bộ giá trị hợp đồng. Trường hợp nhà thầu nước ngoài giao lại toàn bộ phần hạng mục có bao thầu cho các nhà thầu phụ và chỉ thực hiện phần dịch vụ còn lại thì áp dụng tỷ lệ của ngành nghề dịch vụ là 5%.
  • Đối với hợp đồng cung cấp máy móc, thiết bị kèm dịch vụ thực hiện tại Việt Nam, nếu không tách riêng được giá trị máy móc và giá trị dịch vụ thì áp dụng tỷ lệ tính thuế là 3% trên tổng doanh thu. Nếu tách riêng được thì áp dụng tỷ lệ phần trăm theo từng phần giá trị tương ứng.

Thuế giá trị gia tăng đối với Nhà thầu nước ngoài, Nhà thầu phụ nước ngoài cung cấp hàng hóa, dịch vụ để tiến hành hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển và khai thác mỏ dầu, khí đốt được quy định ra sao?

Căn cứ khoản 7 Điều 9 Thông tư 69/2025/TT-BTC, quy định về thuế trong lĩnh vực dầu khí được triển khai như sau:

  • Trường hợp nhà thầu nước ngoài, nhà thầu phụ nước ngoài cung cấp hàng hóa, dịch vụ phục vụ hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển và khai thác mỏ dầu, khí đốt không đáp ứng điều kiện nộp thuế theo phương pháp khấu trừ, bên Việt Nam có trách nhiệm khấu trừ và nộp thay thuế giá trị gia tăng trước khi thực hiện thanh toán. Số thuế nộp thay được tính bằng tổng số tiền thanh toán chưa có thuế giá trị gia tăng nhân với thuế suất quy định đối với loại hàng hóa, dịch vụ đó.
  • Trường hợp đáp ứng điều kiện nộp thuế theo phương pháp khấu trừ (hoặc đáp ứng điều kiện có cơ sở thường trú, là đối tượng cư trú tại Việt Nam, có thời hạn kinh doanh theo hợp đồng từ 183 ngày trở lên và thực hiện đầy đủ chế độ kế toán theo pháp luật): Trong giai đoạn chưa được cấp giấy chứng nhận đăng ký thuế, bên Việt Nam vẫn thực hiện khấu trừ nộp thay khi thanh toán. Sau khi nhà thầu được cấp giấy chứng nhận đăng ký thuế, nhà thầu thực hiện chuyển giao hóa đơn, chứng từ phát sinh trong kỳ cho bên Việt Nam để bên Việt Nam thực hiện kê khai khấu trừ, nộp thay. Nhà thầu nước ngoài, nhà thầu phụ nước ngoài không được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào phát sinh trước thời điểm được cấp giấy chứng nhận đăng ký thuế.

Lưu ý: Hợp đồng nhà thầu là văn bản thỏa thuận giữa nhà thầu nước ngoài và bên Việt Nam. Hợp đồng nhà thầu phụ là thỏa thuận giữa nhà thầu phụ và nhà thầu nước ngoài. Các khái niệm về cơ sở thường trú và đối tượng cư trú được áp dụng đồng bộ theo pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân.

Tin Mới

Định mức kinh tế kỹ thuật dịch vụ bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc gồm những nội dung gì?

Cử lại người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp phải đáp ứng điều kiện gì?

Doanh thu tính thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động kinh doanh theo hợp đồng BCC được xác định như thế nào?

Vận hành Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng trên toàn quốc chính thức từ ngày 01/7/2026 ra sao?

Chia sẻ thông tin sai sự thật trên mạng gây khó khăn cho người thi hành công vụ bị phạt thế nào?