
Điều 18. Trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự
“Khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm khởi tố vụ án, áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội, pháp nhân phạm tội.”
“Không được khởi tố vụ án ngoài những căn cứ và trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định.”
Điều 143. Căn cứ khởi tố vụ án hình sự
“Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ:
Tố giác của cá nhân;
Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng;
Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;
Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm;
Người phạm tội tự thú.”*
Điều 179. Khởi tố bị can
“1. Khi có đủ căn cứ để xác định một người hoặc pháp nhân đã thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can.”
Theo các quy định nêu trên, khởi tố vụ án hình sự là bước đầu trong quá trình tố tụng hình sự và độc lập với khởi tố bị can. Khi đã có dấu hiệu tội phạm, cơ quan điều tra sẽ tiến hành khởi tố vụ án, sau đó mới xác định bị can.
Trong trường hợp công ty thay đổi giám đốc (người đại diện theo pháp luật):
Nếu hành vi vi phạm xảy ra trước thời điểm ông B làm giám đốc thì ông B không chịu trách nhiệm hình sự cho hành vi đó.
Nếu hành vi do ông A (giám đốc cũ) thực hiện, thì ông A sẽ bị khởi tố cá nhân nếu có căn cứ.
Nếu hành vi vi phạm bị quy trách nhiệm cho pháp nhân là công ty, thì công ty sẽ bị khởi tố, và ông B chỉ đại diện pháp luật cho công ty tham gia quá trình tố tụng, không phải là bị can nếu không có hành vi vi phạm nào.
✅ Tóm lại: Giám đốc mới chỉ chịu trách nhiệm đối với các hành vi xảy ra trong thời gian đảm nhiệm chức vụ, và không bị truy cứu trách nhiệm hình sự cho các vi phạm trước đó nếu bản thân không liên quan.