Khi ly hôn việc chia tài sản chung có bị tính thuế thu nhập cá nhân không? Tài sản chung của vợ chồng quy định như thế nào?

Vấn đề phân chia tài sản sau khi chấm dứt quan hệ hôn nhân luôn là nội dung quan trọng được dư luận quan tâm. Dưới góc độ pháp lý, việc phân chia này không chỉ tuân thủ Luật Hôn nhân và gia đình mà còn chịu sự điều chỉnh của các quy định về nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước.
Khi ly hôn việc chia tài sản chung có bị tính thuế thu nhập cá nhân không?
Căn cứ theo điểm a, khoản 1, Điều 3 Thông tư 111/2013/TT-BTC, pháp luật quy định cụ thể về các khoản thu nhập được miễn thuế như sau:
Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; bố vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh chị em ruột với nhau thuộc diện được miễn thuế.
Đặc biệt, đối với trường hợp bất động sản do vợ hoặc chồng tạo lập trong thời kỳ hôn nhân, được xác định là tài sản chung của vợ chồng, khi ly hôn được phân chia theo thỏa thuận hoặc do tòa án phán quyết thì việc phân chia tài sản này thuộc diện được miễn thuế thu nhập cá nhân.
Tài sản chung của vợ chồng quy định như thế nào?
Theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, chế độ tài sản chung của vợ chồng được xác lập như sau:
- Tài sản chung bao gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập từ lao động, sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân (trừ trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân); tài sản được thừa kế chung hoặc tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
- Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung, trừ trường hợp được thừa kế riêng, tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
- Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, dùng để bảo đảm nhu cầu gia đình và thực hiện nghĩa vụ chung.
- Trong trường hợp không có căn cứ chứng minh tài sản đang tranh chấp là tài sản riêng thì tài sản đó được coi là tài sản chung.
Hợp đồng bảo đảm có được xác lập bằng tài sản chung của vợ chồng không?
Việc xác lập hợp đồng bảo đảm bằng tài sản chung của vợ chồng được điều chỉnh bởi Điều 27 Nghị định 21/2021/NĐ-CP với các nguyên tắc sau:
- Đối với tài sản chung là số dư tiền gửi, chứng khoán hoặc động sản khác không phải đăng ký quyền sở hữu, người đứng tên hoặc chiếm hữu được tự mình xác lập hợp đồng bảo đảm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác giữa vợ chồng hoặc với bên nhận bảo đảm.
- Trường hợp dùng tài sản chung góp vốn vào pháp nhân hoặc thành lập doanh nghiệp tư nhân: Người góp vốn hoặc đứng tên chủ doanh nghiệp được tự mình xác lập hợp đồng bảo đảm liên quan đến phần vốn góp hoặc tài sản doanh nghiệp. Nếu không có thỏa thuận văn bản nhưng người còn lại biết mà không phản đối thì coi như đã đồng ý.
- Trường hợp vợ chồng ly hôn sau khi đã xác lập hợp đồng bảo đảm theo các phương thức nêu trên: Người đã xác lập hợp đồng, biện pháp bảo đảm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ đã cam kết, trừ khi bản án hoặc quyết định của Tòa án có phán quyết khác.