

Theo khoản 3 Điều 3 Luật Nuôi con nuôi 2010, con nuôi là người được nhận làm con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký.
Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 68 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định rằng giữa con nuôi và cha mẹ nuôi có đầy đủ quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con theo Luật này, Luật Nuôi con nuôi, Bộ luật Dân sự (BLDS) và các quy định pháp luật khác có liên quan.
Theo quy định tại Bộ luật Dân sự 2015, con nuôi có thể hưởng thừa kế di sản của cha mẹ nuôi theo hai hình thức: thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật.
Nếu trước khi qua đời, cha mẹ nuôi lập di chúc hợp pháp để lại di sản cho con nuôi thì con nuôi có quyền thừa kế theo nội dung di chúc. Tuy nhiên, nếu con nuôi chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động mà không được cha mẹ nuôi cho hưởng di sản, hoặc chỉ được hưởng ít hơn 2/3 suất thừa kế theo pháp luật, thì theo quy định tại Điều 644 BLDS 2015, con nuôi vẫn được hưởng ít nhất 2/3 suất thừa kế theo pháp luật.
Trong trường hợp cha mẹ nuôi không để lại di chúc, quyền thừa kế sẽ được thực hiện theo quy định về thừa kế theo pháp luật. Cụ thể theo Điều 651 BLDS 2015, con nuôi thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cha mẹ nuôi, ngang hàng với con ruột. Điều 653 BLDS 2015 khẳng định con nuôi và cha mẹ nuôi có quyền thừa kế di sản của nhau theo quy định tại Điều 651 và Điều 652.
Dù có quyền thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật, nhưng trong một số trường hợp sau đây, con nuôi không được hưởng di sản:
Như vậy con nuôi hoàn toàn có quyền thừa kế di sản của cha mẹ nuôi theo cả hai hình thức: thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi, việc đăng ký quan hệ nuôi con nuôi hợp pháp là rất quan trọng. Đồng thời, cha mẹ nuôi cũng nên lập di chúc rõ ràng để tránh tranh chấp sau này.