
Hành vi người sử dụng lao động chậm đóng bảo hiểm y tế cho người lao động không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi khám chữa bệnh của nhân sự mà còn khiến doanh nghiệp đối mặt với các án phạt hành chính nặng nề. Việc nắm rõ khung phạt và các rủi ro pháp lý liên quan sẽ giúp người sử dụng lao động chủ động tuân thủ quy định, tránh những chi phí phát sinh không đáng có.
Trách nhiệm tham gia bảo hiểm y tế cho nhân sự là nghĩa vụ bắt buộc của doanh nghiệp. Căn cứ khoản 1 Điều 81 Nghị định 90/2026/NĐ-CP, người sử dụng lao động không lập danh sách hoặc lập danh sách không đầy đủ số người tham gia bảo hiểm y tế trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định (nhưng chưa đến mức bị coi là trốn đóng) sẽ bị phạt tiền tùy theo quy mô người lao động bị vi phạm.
Mức phạt tiền cụ thể áp dụng cho từng quy mô vi phạm được chi tiết như sau:
| Số lượng người lao động bị vi phạm | Mức phạt áp dụng cho cá nhân |
|---|---|
| Dưới 10 người lao động | Từ 01 đến 02 triệu đồng |
| Từ 10 đến dưới 50 người lao động | Từ 02 đến 04 triệu đồng |
| Từ 50 đến dưới 100 người lao động | Từ 04 đến 07 triệu đồng |
| Từ 100 đến dưới 500 người lao động | Từ 07 đến 15 triệu đồng |
| Từ 500 đến dưới 1.000 người lao động | Từ 15 đến 25 triệu đồng |
| Từ 1.000 người lao động trở lên | Từ 25 đến 35 triệu đồng |
Lưu ý quan trọng: Khung tiền phạt nêu trong bảng trên là mức phạt áp dụng đối với cá nhân vi phạm. Đối với tổ chức (doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ quan…), mức phạt tiền sẽ gấp 02 lần mức phạt áp dụng cho cá nhân theo quy định tại khoản 5 Điều 4 Nghị định 90/2026/NĐ-CP. Ví dụ, nếu công ty vi phạm quy mô từ 1.000 người lao động trở lên thì mức phạt tiền tối đa có thể lên tới 70 triệu đồng.
Ngoài việc bị phạt tiền, người sử dụng lao động vi phạm còn phải chịu các biện pháp khắc phục hậu quả nghiêm ngặt theo khoản 3 Điều 81 Nghị định 90/2026/NĐ-CP bao gồm:
Nhằm đảm bảo tính minh bạch và bảo vệ quyền lợi của người tham gia, Điều 11 Luật Bảo hiểm y tế 2008 (được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 9 Điều 1 Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi 2024, có hiệu lực từ 01/07/2025) quy định các hành vi bị nghiêm cấm bao gồm:
Theo quy định tại Điều 6 Bộ luật Lao động 2019, việc thực hiện chính sách bảo hiểm cho nhân viên gắn liền với trách nhiệm pháp lý tổng thể của doanh nghiệp trong quan hệ lao động.
Doanh nghiệp cần chủ động rà soát danh sách trích đóng bảo hiểm định kỳ để tránh việc người sử dụng lao động chậm đóng bảo hiểm y tế, hạn chế các khoản tiền phạt lãi phát sinh và đảm bảo môi trường làm việc tuân thủ pháp luật.