Mẹ chồng chửi con dâu có phải bạo lực gia đình không? Chi tiết các hành vi bạo lực gia đình hiện nay ra sao?
Vấn đề bạo lực gia đình không chỉ giới hạn ở các hành vi xâm phạm thân thể mà còn bao gồm các hành vi tác động tiêu cực đến tâm lý và danh dự. Dưới đây là phân tích pháp lý dựa trên các quy định hiện hành về mối quan hệ giữa mẹ chồng, con dâu và các dấu hiệu nhận biết bạo lực gia đình.
Mẹ chồng chửi con dâu có phải bạo lực gia đình không? Chi tiết các hành vi bạo lực gia đình hiện nay ra sao?
Theo quy định tại khoản 16 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, mẹ chồng và con dâu được xác định là các thành viên trong gia đình. Cụ thể:
Thành viên gia đình bao gồm vợ, chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng; con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng, con dâu, con rể; anh, chị, em cùng cha mẹ, anh, chị, em cùng cha khác mẹ, anh, chị, em cùng mẹ khác cha, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; ông bà nội, ông bà ngoại; cháu nội, cháu ngoại; cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột.
Tại khoản 1 Điều 2 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2022 giải thích bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, tình dục, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình.
Hành hạ, ngược đãi, đánh đập, đe dọa hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khỏe, tính mạng;
Lăng mạ, chì chiết hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;
Cưỡng ép chứng kiến bạo lực đối với người, con vật nhằm gây áp lực thường xuyên về tâm lý;
Bỏ mặc, không quan tâm; không nuôi dưỡng, chăm sóc thành viên gia đình là trẻ em, phụ nữ mang thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người cao tuổi, người khuyết tật, người không có khả năng tự chăm sóc; không giáo dục thành viên gia đình là trẻ em;
Kỳ thị, phân biệt đối xử về hình thể, giới, giới tính, năng lực của thành viên gia đình;
Ngăn cản thành viên gia đình gặp gỡ người thân, có quan hệ xã hội hợp pháp, lành mạnh hoặc hành vi khác nhằm cô lập, gây áp lực thường xuyên về tâm lý;
Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;
Tiết lộ hoặc phát tán thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình của thành viên gia đình nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm;
Cưỡng ép thực hiện hành vi quan hệ tình dục trái ý muốn của vợ hoặc chồng;
Cưỡng ép trình diễn hành vi khiêu dâm; cưỡng ép nghe âm thanh, xem hình ảnh, đọc nội dung khiêu dâm, kích thích bạo lực;
Cưỡng ép tảo hôn, kết hôn, ly hôn hoặc cản trở kết hôn, ly hôn hợp pháp;
Cưỡng ép mang thai, phá thai, lựa chọn giới tính thai nhi;
Chiếm đoạt, hủy hoại tài sản chung của gia đình hoặc tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình;
Cưỡng ép thành viên gia đình học tập, lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát tài sản, thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng lệ thuộc về mặt vật chất, tinh thần hoặc các mặt khác;
Cô lập, giam cầm thành viên gia đình;
Cưỡng ép thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở hợp pháp trái pháp luật.
Như vậy, hành vi lăng mạ, chì chiết nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình là một dạng bạo lực gia đình về tinh thần. Do đó, việc mẹ chồng chửi bới con dâu được xác định là hành vi bạo lực gia đình theo quy định của pháp luật.
Nguyên tắc phòng chống bạo lực gia đình hiện nay gồm những gì?
Phòng ngừa là chính, lấy người bị bạo lực gia đình là trung tâm.
Tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có liên quan; bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em; ưu tiên bảo vệ phụ nữ mang thai, người nuôi con nhỏ, người cao tuổi và người khuyết tật.
Chú trọng tuyên truyền, giáo dục, tư vấn và hòa giải.
Kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm.
Nâng cao trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và người đứng đầu.
Phát huy vai trò của cá nhân, gia đình và cộng đồng.
Thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, công chức, viên chức.
Chính sách của Nhà nước về phòng chống bạo lực gia đình được quy định thế nào?