
Câu hỏi đặt ra là, liệu một người mắc bệnh tâm thần gây ra hành vi giết người có phải chịu trách nhiệm trước pháp luật hay không? Trong một số trường hợp, người bệnh tâm thần vẫn có thể phải đối mặt với án tù. Bài viết này sẽ đi sâu vào quy định của pháp luật, các tình huống cụ thể, và danh mục bệnh tâm thần thường gặp trong giám định pháp y, giúp bạn hiểu rõ hơn về vấn đề phức tạp này.
Theo quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015, mức phạt cho tội giết người được phân loại như sau:
Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.
Như vậy, mức án cho tội giết người phụ thuộc vào các tình tiết cụ thể của vụ án, từ 7 năm tù đến tử hình.
Vấn đề trách nhiệm hình sự đối với người mắc bệnh tâm thần được quy định cụ thể trong Bộ luật Hình sự. Theo Điều 21 Bộ luật Hình sự 2015, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Điều này xuất phát từ nguyên tắc cơ bản của luật hình sự: chỉ khi một người có đầy đủ năng lực hành vi thì mới phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.
Tuy nhiên, có những trường hợp ngoại lệ mà người bệnh tâm thần vẫn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự:
Điều quan trọng là, trong những trường hợp này, việc xác định tình trạng bệnh tâm thần và khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của người phạm tội phải dựa trên kết luận giám định pháp y tâm thần của cơ quan chuyên môn.
Ví dụ: Một người lên kế hoạch giết người khi còn hoàn toàn tỉnh táo, sau đó bị tâm thần. Sau khi giám định, xác định người này không bị mất khả năng nhận thức tại thời điểm phạm tội, người này vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.
Thời gian bắt buộc chữa bệnh sẽ được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.
Theo Quyết định 2999/QĐ-BYT năm 2022 của Bộ Y tế, danh mục bệnh tâm thần/rối loạn tâm thần thường gặp trong giám định pháp y bao gồm:
| STT | Tên Bệnh |
|---|---|
| 1 | Mất trí trong bệnh Pick (F02.0) |
| 2 | Mất trí không biệt định (F03) |
| 3 | Các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng cần sa (F12) |
| 4 | Các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng cocaine (F14) |
| 5 | Các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất kích thích khác bao gồm cafeine (F15) |
| 6 | Tâm thần phân liệt thể căng trương lực (F20.2) |
| 7 | Rối loạn loạn thần đa dạng cấp với các triệu chứng của tâm thần phân liệt (F23.1) |
| 8 | Hưng cảm nhẹ (F30.0) |
| 9 | Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại giai đoạn hỗn hợp (F31.6) |
| 10 | Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại thuyên giảm (F31.7) |
| 11 | Giai đoạn trầm cảm nhẹ (F32.0) |
| 12 | Giai đoạn trầm cảm vừa (F32.1) |
| 13 | Rối loạn trầm cảm tái diễn, hiện tại thuyên giảm (F33.4) |
| 14 | Khí sắc chu kỳ (F34.0) |
| 15 | Rối loạn hoảng sợ (F41.0) |
| 16 | Rối loạn lo âu lan tỏa (F41.1) |
| 17 | Phản ứng trầm cảm ngắn (F43.20) |
| 18 | Phản ứng trầm cảm kéo dài (F43.21) |
| 19 | Phản ứng hỗn hợp lo âu và trầm cảm (F43.22) |
| 20 | Sững sờ phân ly (F44.2) |
| 21 | Các rối loạn vận động phân ly (F44.4) |
| 22 | Co giật phân ly (F44.5) |
| 23 | Các rối loạn phân ly (chuyển di) hỗn hợp (F44.7) |
| 24 | Rối loạn cơ thể hóa (F45.0) |
| 25 | Xu hướng tình dục quá mức (F52.7) |
| 26 | Các rối loạn tâm thần và hành vi nhẹ, kết hợp với thời kỳ sinh đẻ, không phân loại ở nơi khác (F53.0) |
| 27 | Các rối loạn tâm thần và hành vi nặng, kết hợp với thời kỳ sinh đẻ, không phân loại ở nơi khác (F53.1) |
| 28 | Biến đổi nhân cách kéo dài sau trải nghiệm sự kiện bi thảm (F62.0) |
| 29 | Biến đổi nhân cách kéo dài sau bệnh tâm thần (F62.1) |
| 30 | Loạn dục trẻ em (F65.4) |
Danh mục này cung cấp cơ sở để các cơ quan chức năng thực hiện giám định pháp y tâm thần, đánh giá chính xác tình trạng bệnh lý của người phạm tội và xác định trách nhiệm hình sự tương ứng.
Như vậy, việc một người bị bệnh tâm thần giết người có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đặc biệt là tình trạng bệnh lý tại thời điểm gây án và kết luận giám định pháp y tâm thần. Pháp luật luôn cố gắng đảm bảo sự công bằng và nhân đạo, vừa bảo vệ quyền lợi của xã hội, vừa xem xét đến hoàn cảnh đặc biệt của người bệnh.