
Người trưởng thành đủ 18 tuổi có thể đăng ký nhận con nuôi được hay không? Người muốn nhận con nuôi cần chuẩn bị những loại hồ sơ nào? Muốn nhận con cần thực hiện những thủ tục gì theo quy định hiện hành là gì?
Tại Điều 14 Luật Nuôi con nuôi 2010 đã quy định như sau về điều kiện nuôi con nuôi:
Điều kiện đối với người nhận con nuôi
Người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện sau đây:
- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
- Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên;
- Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi;
- Có tư cách đạo đức tốt.
Những người sau đây không được nhận con nuôi:
- Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên;
- Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh;
- Đang chấp hành hình phạt tù;
- Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.
Như vậy, theo quy định tại khoản b Điều 14 Luật nuôi con nuôi năm 2010 đã quy định rõ rằng người muốn nhận con nuôi thì phải hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên.
Vậy nên, người trưởng thành tuy đã đủ 18 tuổi thì vẫn sẽ không đáp ứng được điều kiện lớn hơn con nuôi 20 tuổi. Vì vậy, người trưởng thành đã đủ 18 tuổi vẫn chưa đủ điều kiện để nhận con nuôi.
Lưu ý:
Tuy nhiên theo quy định tại khoản 3 Điều 14 Luật Nuôi con nuôi 2010 thì trong trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không cần đáp ứng điều kiện lớn hơn con nuôi 20 tuổi.
Vì vậy, khi cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì từ đủ 18 tuổi có thể nhận con nuôi.
Các loại hồ sơ và yêu cầu của các loại hồ sơ có cơ sở pháp lý được quy định tại : Điều 17 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 và khoản 4 Điều 1 Nghị định 06/2025/NĐ-CP gồm những loại hồ sơ và điều kiện của hồ sơ để nhận con nuôi gồm:
Hồ sơ của người nhận con nuôi gồm có:
Các loại hồ sơ trên sẽ được thực hiện như sau:
Kết quả tra cứu được Ủy ban nhân dân cấp xã lưu trữ dưới dạng điện tử hoặc bản giấy, phản ánh đầy đủ, chính xác thông tin tại thời điểm tra cứu và đính kèm hồ sơ của người nhận con nuôi.
+ Trường hợp người nhận con nuôi có nơi thường trú và nơi ở hiện tại khác nhau, trong 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị của người nhận con nuôi, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người nhận con nuôi thường trú trực tiếp xác minh trong 05 ngày làm việc hoặc có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi ở hiện tại của người nhận con nuôi thực hiện xác minh, đánh giá hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế của người nhận con nuôi.
+ Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi ở hiện tại của người nhận con nuôi thực hiện xác minh, đánh giá theo nội dung Văn bản xác nhận hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế của người nhận con nuôi và có văn bản thông báo kết quả đánh giá cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người nhận con nuôi thường trú.
Theo quy định tại Điều 10 Nghị định 19/2011/NĐ-CP được sửa đổi bởi khoản 5 Điều 1 Nghị định 06/2025/NĐ-CP quy định về thủ tục nhận con nuôi như sau:
+ Việc giao nhận con nuôi được tổ chức tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đăng ký việc nuôi con nuôi với sự có mặt của cha, mẹ nuôi, cha, mẹ đẻ, người giám hộ hoặc đại diện cơ sở nuôi dưỡng và người được nhận làm con nuôi. Trường hợp cha, mẹ nuôi hoặc cha, mẹ đẻ của trẻ em mà một trong hai người vì lý do khách quan không thể có mặt tại buổi giao nhận con nuôi thì phải có ủy quyền cho người kia.
+ Công chức tư pháp – hộ tịch ghi vào Sổ đăng ký nuôi con nuôi và trao Giấy chứng nhận nuôi con nuôi trong nước cho bên giao, bên nhận. Bản điện tử Giấy chứng nhận nuôi con nuôi trong nước được gửi qua Kho quản lý dữ liệu điện tử của cá nhân hoặc qua hộp thư điện tử cá nhân. Việc giao nhận con nuôi phải được lập thành biên bản, có chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên và đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi giải quyết việc nuôi con nuôi.
Cũng tại Điều 10a Nghị định 19/2011/NĐ-CP được bổ sung tại khoản 6 Điều 1 Nghị định 06/2025/NĐ-CP như sau:
Điều 10a. Thông báo tình hình phát triển của con nuôi
- Trường hợp cha, mẹ nuôi thay đổi nơi thường trú khi chưa hết thời hạn phải thông báo tình hình phát triển của con nuôi, cha, mẹ nuôi có trách nhiệm tiếp tục thông báo tình hình phát triển của con nuôi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi chuyển đến cho đến khi hết thời hạn thông báo theo quy định tại khoản 1 Điều 23 của Luật Nuôi con nuôi.
- Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cha, mẹ nuôi chuyển đến có trách nhiệm kiểm tra, theo dõi tình hình thực hiện việc nuôi con nuôi theo quy định tại khoản 2 Điều 23 của Luật Nuôi con nuôi.
Theo đó, cha mẹ nuôi phải có trách nhiệm thông báo tình hình phát triển của con nuôi: