Việc xác định giá đất cụ thể để tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được quy định tại:
Điều 34 Nghị định 71/2024/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 226/2025/NĐ-CP.
Theo Điều 34 Nghị định 71/2024/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung tại khoản 14 Điều 1 Nghị định 226/2025/NĐ-CP):
Cơ quan quản lý đất đai kiểm tra nội dung Báo cáo thuyết minh, xây dựng Tờ trình và hồ sơ để trình Hội đồng thẩm định giá đất cụ thể.
Hồ sơ gồm:
Văn bản đề nghị thẩm định phương án giá đất;
Tờ trình về phương án giá đất;
Báo cáo thuyết minh, dự thảo Chứng thư định giá đất;
Hồ sơ định giá đất cụ thể.
Hội đồng thẩm định giá đất cụ thể thẩm định và gửi văn bản thẩm định đến cơ quan quản lý đất đai.
Trường hợp xác định giá đất để bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất:
Cơ quan quản lý đất đai cấp xã cung cấp phương án giá đất cho đơn vị thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư;
Cơ quan quản lý đất đai cấp xã tiếp thu, hoàn thiện hồ sơ;
Cơ quan quản lý đất đai cấp xã chủ trì, phối hợp với Hội đồng thẩm định giá đất cụ thể để thẩm định đồng thời phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và phương án giá đất.
Theo khoản 1 Điều 160 Luật Đất đai 2024, giá đất cụ thể được áp dụng khi:
Tính tiền sử dụng đất trong các trường hợp Nhà nước giao đất có thu tiền nhưng không thông qua đấu giá, đấu thầu;
Tính tiền thuê đất khi Nhà nước cho thuê đất thu tiền một lần cho cả thời gian thuê;
Tính giá trị quyền sử dụng đất khi cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước;
Xác định giá khởi điểm để đấu giá quyền sử dụng đất;
Tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất khi gia hạn, điều chỉnh thời hạn sử dụng đất hoặc chuyển đổi hình thức sử dụng;
Tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
Theo khoản 1 Điều 158 Luật Đất đai 2024, việc định giá đất phải bảo đảm:
Theo nguyên tắc thị trường;
Tuân thủ đúng phương pháp, trình tự, thủ tục định giá đất;
Trung thực, khách quan, công khai, minh bạch;
Đảm bảo tính độc lập giữa các cơ quan, tổ chức tư vấn và thẩm định;
Hài hòa lợi ích giữa Nhà nước – người sử dụng đất – nhà đầu tư.