
Thông tin về thực hư cấm trẻ em dưới 16 tuổi dùng MXH ở Việt Nam có đúng không, thông tin cấm trẻ em dưới 16 tuổi dùng mạng xã hội ở Việt Nam dưới đây:
Thời gian vừa qua, trên các nền tảng mạng xã hội lan truyền thông tin rằng “Cấm trẻ em dưới 16 tuổi dùng MXH ở Việt Nam” làm xôn xao dư luận.
Đây là thông tin sai sự thật, làm xôn xao dư luận.
Theo đó, căn cứ tại Hiến pháp 2013, Luật An ninh mạng 2018, Luật An toàn thông tin mạng 2015, Luật Trẻ em 2016, v.v… không có bất kỳ văn bản nào quy định việc cấm trẻ dưới 16 tuổi dùng MXH tại Việt Nam.
Vì thế, người dân cần thận trọng khi tiếp nhận thông tin trên mạng, chỉ nên tham khảo nguồn tin chính thống như Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, Báo Chính phủ, hoặc các cơ quan báo chí, truyền thông uy tín để tránh bị nhiễu loạn thông tin.
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 27 Nghị định 147/2024/NĐ-CP quy định về trẻ em dưới 16 tuổi muốn sử dụng mạng xã hội tại Việt Nam phải đăng ký thông tin tài khoản như sau:
Điều kiện về tổ chức, nhân sự, kỹ thuật đối với trang thông tin điện tử tổng hợp, mạng xã hội trong nước
…
3. Ngoài việc bảo đảm các điều kiện kỹ thuật quy định tại khoản 2 Điều này, hệ thống kỹ thuật thiết lập mạng xã hội phải có khả năng đáp ứng các yêu cầu sau:
a) Lưu trữ thông tin của người sử dụng dịch vụ từ Việt Nam khi đăng ký tài khoản mạng xã hội, bao gồm: Họ và tên, ngày tháng năm sinh, số điện thoại di động tại Việt Nam (hoặc số định danh cá nhân); trường hợp người sử dụng dịch vụ là trẻ em (dưới 16 tuổi) thì cha, mẹ hoặc người giám hộ theo pháp luật dân sự của trẻ em đăng ký tài khoản bằng thông tin của cha, mẹ hoặc người giám hộ theo pháp luật dân sự của trẻ em và có trách nhiệm giám sát, quản lý nội dung trẻ em truy cập, đăng tải và chia sẻ thông tin trên mạng xã hội;
Như vậy, trẻ em dưới 16 tuổi muốn sử dụng mạng xã hội tại Việt Nam phải đăng ký thông tin tài khoản bằng thông tin của cha, mẹ hoặc người giám hộ theo pháp luật dân sự của trẻ em. Cha, mẹ hoặc người giám hộ có trách nhiệm giám sát, quản lý nội dung trẻ em truy cập, đăng tải và chia sẻ thông tin trên mạng xã hội.
Căn cứ theo Điều 80 Nghị định 147/2024/NĐ-CP quy định về ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin vi phạm pháp luật trên mạng như sau:
(1) Các bộ, ngành, địa phương trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện, hoặc phối hợp thực hiện ngăn chặn, xử lý thông tin vi phạm pháp luật trên mạng liên quan tới lĩnh vực, địa bàn quản lý. Trường hợp cần thiết, kịp thời gửi thông tin vi phạm pháp luật trên mạng liên quan tới lĩnh vực, địa bàn quản lý tới Bộ Thông tin và Truyền thông (Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử), Bộ Công an (Cục An ninh mạng và Phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao) để xử lý.
(2) Bộ Thông tin và Truyền thông (Cục An toàn thông tin), Bộ Công an (Cục An ninh mạng và Phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao) là đầu mối chỉ đạo và giám sát tuân thủ đối với các doanh nghiệp viễn thông, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet, dịch vụ lưu trữ web (hosting), dịch vụ trung tâm dữ liệu (data center) và các doanh nghiệp khác thực hiện ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin vi phạm pháp luật trên mạng.
(3) Bộ Thông tin và Truyền thông (Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử) và Bộ Công an (Cục An ninh mạng và Phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao) là đầu mối chỉ đạo các doanh nghiệp viễn thông, Internet thực hiện từ chối cung cấp hoặc tạm ngừng cung cấp dịch vụ viễn thông, dịch vụ Internet, các dịch vụ khác đối với tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ để đăng tải thông tin vi phạm pháp luật trên mạng.
(4) Doanh nghiệp viễn thông, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet, dịch vụ lưu trữ web (hosting), dịch vụ trung tâm dữ liệu (data center) và các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ ứng dụng viễn thông có trách nhiệm:
(5) Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet có trách nhiệm: