
Tính đến thời điểm tháng 01/2026, văn bản pháp lý chủ chốt điều chỉnh lĩnh vực này là Luật Hộ tịch 2014 (Luật số 60/2014/QH13). Đây là đạo luật nền tảng quy định về quyền, nghĩa vụ của cá nhân, thẩm quyền và trình tự thủ tục đăng ký các sự kiện hộ tịch, cũng như công tác quản lý nhà nước về hộ tịch tại Việt Nam.
Luật Hộ tịch 2014 bao gồm 07 Chương với 77 Điều. Đạo luật này thiết lập khung pháp lý về việc đăng ký hộ tịch, xây dựng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử và xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan hữu quan trong việc quản lý thông tin nhân thân của công dân.
Tải về Luật hộ tịch PDF
Hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Hộ tịch 2014 đang có hiệu lực bao gồm:
Theo quy định tại Điều 5 Luật Hộ tịch 2014, hoạt động đăng ký hộ tịch phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau đây:
Căn cứ khoản 1 Điều 3 Nghị định 87/2020/NĐ-CP, hệ thống dữ liệu điện tử lưu trữ các nhóm thông tin sau:
(1) Dữ liệu hộ tịch xác lập khi đăng ký khai sinh: Bao gồm họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi sinh, dân tộc, quốc tịch, số định danh cá nhân của người được khai sinh và thông tin tương ứng của cha, mẹ; chi tiết về người đi đăng ký và thông tin về cơ quan, người ký giấy khai sinh.
(2) Dữ liệu ghi chú khai sinh: Áp dụng cho công dân Việt Nam đã khai sinh tại nước ngoài và thực hiện thủ tục ghi vào Sổ hộ tịch trong nước, bao gồm các thông tin nhân thân và chi tiết về giấy tờ hộ tịch nước ngoài đã cấp.
(3) Các biến động hộ tịch khác: Hệ thống liên tục cập nhật các thông tin phát sinh như:
(4) Hồ sơ số hóa: Bản quét (scan) hoặc ảnh chụp các trang Sổ hộ tịch tương ứng để đối chiếu và lưu trữ lâu dài theo quy định pháp luật.