
Theo Điều 168 Bộ Luật Lao Động 2019, quy định:
“Đối với người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả thêm cùng lúc với kỳ trả lương một khoản tiền cho người lao động tương đương với mức đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật.”
Điều này có nghĩa là người lao động nước ngoài không thuộc diện tham gia bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), nhưng công ty vẫn phải chi trả thêm một khoản tiền tương đương mức đóng BHTN cho người lao động. Khoản tiền này có thể được ghi rõ trong hợp đồng lao động.
Theo Điều 46 Bộ Luật Lao Động 2019, khi tính trợ cấp thôi việc, thời gian làm việc để tính trợ cấp sẽ trừ đi thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian người sử dụng lao động đã chi trả thay cho bảo hiểm thất nghiệp.
Quy định này được hướng dẫn thêm tại Khoản 3, Điều 8, Nghị định 145/2020/NĐ-CP, cụ thể:
“Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động làm việc thực tế trừ đi:
(1) Thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
(2) Thời gian người lao động thuộc diện không tham gia bảo hiểm thất nghiệp nhưng được người sử dụng lao động chi trả khoản tiền tương đương mức đóng BHTN cùng với lương.”
Công thức tính trợ cấp thôi việc:
Trợ cấp thôi việc = (Tổng thời gian làm việc) – (Thời gian đã đóng BHTN) – (Thời gian được nhận tiền đóng BHTN vào lương)
Nếu doanh nghiệp đã trả vào lương khoản tiền đóng BHTN cho toàn bộ thời gian làm việc, thì thời gian tính trợ cấp thôi việc sẽ bị trừ hết, dẫn đến kết quả trợ cấp thôi việc = 0.
🔗 Tham khảo thêm: Nghị định 145/2020/NĐ-CP hướng dẫn Bộ Luật Lao Động