Căn cứ Điều 339 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định về hậu quả của việc kháng cáo, kháng nghị như sau:
Những phần của bản án, quyết định của Tòa án bị kháng cáo, kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp quy định tại Điều 363 của Bộ luật này.
Khi có kháng cáo, kháng nghị đối với toàn bộ bản án, quyết định thì toàn bộ bản án, quyết định chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp quy định tại Điều 363.
Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi hồ sơ vụ án, kháng cáo, kháng nghị và chứng cứ, tài liệu, đồ vật kèm theo (nếu có) cho Tòa án cấp phúc thẩm trong 07 ngày kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
👉 Như vậy:
Nếu kháng nghị một phần bản án → chỉ phần bị kháng nghị chưa thi hành.
Nếu kháng nghị toàn bộ bản án → toàn bộ bản án chưa thi hành.
Căn cứ Điều 336 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát bao gồm:
Ngày, tháng, năm ra quyết định và số quyết định kháng nghị.
Tên của Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị.
Kháng nghị đối với toàn bộ hay một phần bản án, quyết định sơ thẩm.
Lý do, căn cứ kháng nghị và yêu cầu của Viện kiểm sát.
Họ tên, chức vụ của người ký quyết định kháng nghị.
Theo Điều 338 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:
Trong 02 ngày kể từ ngày ra quyết định kháng nghị, Viện kiểm sát phải gửi:
Quyết định kháng nghị kèm chứng cứ, tài liệu, đồ vật (nếu có) cho Tòa án đã xét xử sơ thẩm.
Quyết định kháng nghị cho bị cáo và những người liên quan.
Quyết định kháng nghị cho Viện kiểm sát khác có thẩm quyền kháng nghị.
Người tham gia tố tụng nhận được thông báo có quyền gửi văn bản nêu ý kiến của mình về nội dung kháng nghị cho Tòa án cấp phúc thẩm, và ý kiến đó được đưa vào hồ sơ vụ án.
Theo Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:
Viện kiểm sát cùng cấp: 15 ngày kể từ ngày Tòa án tuyên án.
Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp: 30 ngày kể từ ngày Tòa án tuyên án.
Đối với quyết định của Tòa án sơ thẩm:
Viện kiểm sát cùng cấp: 07 ngày kể từ ngày ra quyết định.
Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp: 15 ngày kể từ ngày ra quyết định.