
Theo khoản 2 Điều 4 Nghị định 123/2020/NĐ-CP được sửa đổi bởi điểm a khoản 3 Điều 1 Nghị định 70/2025/NĐ-CP, quy định:
Đối với cá nhân ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên, tổ chức, cá nhân trả thu nhập chỉ cấp cho cá nhân một chứng từ khấu trừ thuế trong một năm tính thuế.
Trường hợp cá nhân ủy quyền quyết toán thuế thì không cấp chứng từ khấu trừ thuế TNCN.
Như vậy, cá nhân ký HĐLĐ từ 03 tháng trở lên sẽ chỉ được cấp một chứng từ khấu trừ thuế trong năm tính thuế, khác với cá nhân làm việc thời vụ hoặc hợp đồng dưới 03 tháng.
Căn cứ Điều 8 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007:
Cá nhân được hoàn thuế trong các trường hợp sau:
Đã nộp thuế lớn hơn số thuế phải nộp;
Đã nộp thuế nhưng có thu nhập tính thuế chưa đến mức phải nộp thuế;
Các trường hợp khác theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
➡️ Như vậy, nếu số tiền thuế TNCN đã nộp lớn hơn số thuế phải nộp, cá nhân sẽ được hoàn thuế.
Theo khoản 1 Điều 32 Nghị định 123/2020/NĐ-CP, được sửa đổi bởi điểm a khoản 18 Điều 1 Nghị định 70/2025/NĐ-CP, chứng từ khấu trừ thuế TNCN gồm các nội dung:
Tên chứng từ khấu trừ thuế; ký hiệu mẫu, ký hiệu chứng từ, số thứ tự chứng từ;
Tên, địa chỉ, mã số thuế của tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập;
Tên, địa chỉ, số điện thoại, mã số thuế hoặc số định danh cá nhân của người nhận thu nhập;
Quốc tịch (nếu cá nhân không mang quốc tịch Việt Nam);
Khoản thu nhập, thời điểm trả thu nhập, tổng thu nhập chịu thuế, khoản đóng bảo hiểm bắt buộc, khoản từ thiện/nhân đạo/khuyến học, số thuế đã khấu trừ;
Ngày, tháng, năm lập chứng từ khấu trừ thuế;
Họ tên, chữ ký của người trả thu nhập.
📌 Trường hợp sử dụng chứng từ khấu trừ thuế TNCN điện tử, chữ ký trên chứng từ là chữ ký số.
✅ Tóm lại:
Cá nhân ký HĐLĐ từ 03 tháng trở lên được cấp một chứng từ khấu trừ thuế TNCN trong một năm tính thuế.
Số thuế đã nộp lớn hơn số thuế phải nộp thì được hoàn thuế.
Chứng từ khấu trừ thuế TNCN cần đầy đủ thông tin theo Nghị định 123/2020/NĐ-CP và Nghị định 70/2025/NĐ-CP.