

Theo quy định tại khoản 7 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, chung sống như vợ chồng được quy định như sau:
Giải thích từ ngữ …
7. Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng.
Hiện nay, theo quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì không có quy định về nghĩa vụ đăng ký kết hôn khi chung sống như vợ chồng mà hoàn toàn là do tự nguyện của 2 bên. Tuy nhiên, pháp luật hiện nay chỉ thừa nhận việc kết hôn được đăng ký theo quy định mới có giá trị pháp lý.
Tuy nhiên, trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03/01/1987 thì được công nhận là đã kết hôn theo tiểu mục a Mục 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 (hướng dẫn bởi Mục 1 Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP):
Theo quy định tại điểm a khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội, trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03/01/1987 (ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực) mà chưa đăng ký kết hôn, nếu một bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn, thì Toà án thụ lý vụ án và áp dụng quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục chung.
Cần chú ý là trong trường hợp sau khi quan hệ vợ chồng đã được xác lập họ mới thực hiện việc đăng ký kết hôn, thì quan hệ vợ chồng của họ vẫn được công nhận kể từ ngày xác lập (ngày họ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng), chứ không phải là chỉ được công nhận kể từ ngày đăng ký kết hôn.
Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 thì có 2 hình thức thừa kế gồm:
Thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật; trong đó:
(1) Thừa kế theo di chúc là việc dịch chuyển tài sản của người đã chết cho người còn sống theo quyết định của người để lại di sản trước khi chết thể hiện qua di chúc. Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.
(2) Thừa kế theo pháp luật là việc chuyển giao tài sản của người chết cho những người còn sống theo hàng thừa kế, điều kiện thừa kế và trình tự thừa kế do pháp luật quy định.
Pháp luật chỉ thừa nhận quan hệ vợ chồng nếu nam và nữ đăng ký kết hôn theo đúng quy định; trường hợp sống chung như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn thì không xác lập quan hệ vợ chồng, trừ trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 3/1/1987 thì được công nhận là đã kết hôn (theo tiểu mục a Mục 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10).
Căn cứ Điều 609 và Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp hai người chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn có thể được hưởng di sản thừa kế của người kia theo di chúc. Phần tài sản mà họ được hưởng cụ thể sẽ được chia theo di chúc sau khi đã trừ đi phần tài sản chia cho những người hưởng thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc theo Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015.
Trong đó, di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
Như vậy, nếu kể từ ngày 03/01/1987, việc chung sống như vợ chồng nếu như không được đăng ký kết hôn thì sẽ không được thừa kế theo pháp luật mà chỉ có thể thừa kế theo di chúc.
Theo khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015, những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
Trên đây là thông tin quy định và cách tính thừa kế liên quan đến nội dung chung sống như vợ chồng.