
Căn cứ Điều 35 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú 2025, chế độ dành cho người bị tạm giữ, tạm giam là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi được quy định cụ thể như sau:
Người bị tạm giữ, người bị tạm giam là phụ nữ có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi được bố trí nơi ở hợp lý, được khám thai, được chăm sóc y tế và được hưởng chế độ ăn uống bảo đảm sức khỏe.
Trường hợp người bị tạm giữ, người bị tạm giam là phụ nữ sinh con trong thời gian bị giam giữ, thì được bảo đảm tiêu chuẩn, định lượng ăn theo chỉ dẫn của y sĩ hoặc bác sĩ; được cấp thực phẩm, đồ dùng và thuốc men cần thiết cho việc chăm sóc trẻ sơ sinh; đồng thời được bảo đảm thời gian cho con bú trong suốt thời gian nuôi con bằng sữa mẹ.
Cơ sở giam giữ có trách nhiệm thực hiện thủ tục đề nghị đăng ký khai sinh cho trẻ. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cơ sở giam giữ đóng trụ sở có trách nhiệm đăng ký và cấp giấy khai sinh; đồng thời đề nghị cơ quan bảo hiểm xã hội cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em được sinh ra trong thời gian mẹ bị giam giữ.
Người bị tạm giữ, người bị tạm giam là phụ nữ có thai hoặc có con dưới 36 tháng tuổi ở cùng được bố trí chỗ nằm tối thiểu là 03 m².
Cơ sở giam giữ có trách nhiệm tổ chức việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em dưới 36 tháng tuổi. Khi trẻ đủ 36 tháng tuổi trở lên, người bị tạm giữ, người bị tạm giam phải gửi con về cho người thân thích nuôi dưỡng.
Trong trường hợp không có người thân thích nhận nuôi dưỡng, Thủ trưởng cơ sở giam giữ đề nghị Sở Y tế nơi có cơ sở giam giữ chỉ định cơ sở bảo trợ xã hội tiếp nhận và nuôi dưỡng trẻ. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị, Sở Y tế có trách nhiệm chỉ định cơ sở bảo trợ xã hội phù hợp. Sau khi người bị tạm giữ, người bị tạm giam được trả tự do, họ có quyền nhận lại con đang được cơ sở bảo trợ xã hội nuôi dưỡng.
Các quy định nêu trên nhằm bảo đảm quyền lợi chính đáng của phụ nữ mang thai, phụ nữ nuôi con nhỏ và trẻ em trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam.
Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú 2025 có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.
Căn cứ khoản 1 Điều 22 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú 2025, quyền gặp người thân thích của người bị tạm giữ, tạm giam được quy định như sau:
Người bị tạm giữ được gặp người thân thích 01 lần trong thời gian tạm giữ và 01 lần trong mỗi lần gia hạn tạm giữ.
Người bị tạm giam được gặp người thân thích 01 lần trong 01 tháng. Trường hợp muốn tăng số lần gặp hoặc gặp người không phải là người thân thích, phải được sự đồng ý của cơ quan đang thụ lý vụ án. Thời gian mỗi lần gặp không vượt quá 01 giờ.
Theo khoản 2 Điều 22 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú 2025, người đến thăm phải đáp ứng các yêu cầu sau:
Căn cứ Điều 7 Thông tư 57/2026/TT-BCA (có hiệu lực từ ngày 1/7/2026), thủ tục thăm gặp được thực hiện như sau:
Cơ sở giam giữ phát hành Sổ thăm gặp và gửi quà cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo mẫu thống nhất của Bộ Công an. Sổ thăm gặp phải được Thủ trưởng cơ sở giam giữ ký, đóng dấu và phải được Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi cư trú xác nhận danh sách những người là người thân thích.
Người đến thăm gặp phải xuất trình giấy tờ tùy thân, Sổ thăm gặp hoặc hình thức xác nhận hợp lệ khác. Cán bộ giải quyết thăm gặp có trách nhiệm kiểm tra các loại giấy tờ và báo cáo, đề xuất Thủ trưởng cơ sở giam giữ quyết định.
Trường hợp đủ điều kiện, Thủ trưởng cơ sở giam giữ ban hành quyết định bằng văn bản cho phép thăm gặp, nêu rõ thời điểm thăm gặp và gửi quyết định cho cơ quan đang thụ lý vụ án. Khi cơ quan thụ lý vụ án có yêu cầu giám sát, Thủ trưởng cơ sở giam giữ thực hiện thông báo để phối hợp.
Trường hợp người bị tạm giữ, người bị tạm giam không đồng ý thăm gặp, cán bộ giải quyết thăm gặp đề xuất Thủ trưởng cơ sở giam giữ trích xuất người bị giam giữ ra khỏi buồng giam để gặp trực tiếp người thăm gặp nhằm xác nhận việc từ chối, đồng thời lập biên bản theo quy định.