

Quy định về miễn, giảm tiền phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế và hóa đơn áp dụng cho cá nhân, tổ chức lâm vào hoàn cảnh khó khăn do các nguyên nhân bất khả kháng như thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc bệnh hiểm nghèo. Nội dung dưới đây phân tích chi tiết các căn cứ pháp lý, điều kiện, hồ sơ và nguyên tắc áp dụng theo Nghị định 125/2020/NĐ-CP.
Căn cứ Điều 43 Nghị định 125/2020/NĐ-CP, được sửa đổi bởi khoản 6 Điều 1 Nghị định 102/2021/NĐ-CP, chế độ miễn, giảm tiền phạt được quy định cụ thể như sau:
Về trường hợp áp dụng và thẩm quyền xử lý, các trường hợp được miễn, giảm tiền phạt cùng với thẩm quyền, trình tự, thủ tục thực hiện căn cứ theo Điều 77 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 và khoản 38 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính 2020.
Về mức miễn, giảm tiền phạt, mức tối đa không vượt quá số tiền phạt ghi trong quyết định xử phạt và không vượt quá giá trị tài sản, hàng hóa bị thiệt hại sau khi đã trừ đi giá trị được bảo hiểm hoặc bồi thường (nếu có).
Người nộp thuế bị thiệt hại trong trường hợp bất khả kháng theo quy định tại Luật Quản lý thuế 2019 cần chuẩn bị hồ sơ chứng minh thiệt hại bao gồm:
Trường hợp không được miễn, giảm: Pháp luật không cho phép miễn, giảm tiền phạt đối với các trường hợp đã hoàn tất việc thi hành quyết định xử phạt.
Về miễn, giảm tiền chậm nộp: Khi được miễn, giảm tiền phạt, người nộp thuế cũng đồng thời được miễn, giảm tiền chậm nộp tương ứng với khoản tiền phạt đó.
Về xử lý trường hợp miễn, giảm không đúng quy định: Khi cơ quan có thẩm quyền hoặc cơ quan thuế phát hiện việc miễn, giảm tiền phạt không đúng quy định tại Điều 43 Nghị định 125/2020/NĐ-CP, người có thẩm quyền phải ban hành quyết định hủy hoặc điều chỉnh quyết định miễn, giảm đó. Cơ quan thuế quản lý trực tiếp có trách nhiệm thu hồi vào ngân sách nhà nước phần tiền phạt đã được miễn, giảm sai và tính tiền chậm nộp kể từ ngày người nộp thuế nộp đầy đủ hồ sơ đề nghị miễn, giảm.
Theo Điều 3 Nghị định 125/2020/NĐ-CP, được sửa đổi bởi khoản 2 Điều 1 Nghị định 310/2025/NĐ-CP, đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn bao gồm:
Nhóm thứ nhất là người nộp thuế có hành vi vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn. Trong đó:
Nhóm thứ hai là tổ chức, cá nhân liên quan có hành vi vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn.
Người nộp thuế là tổ chức bị xử phạt bao gồm:
Theo khoản 4 Điều 7 Nghị định 125/2020/NĐ-CP, được sửa đổi bởi điểm c khoản 5 Điều 1 Nghị định 310/2025/NĐ-CP, nguyên tắc áp dụng mức phạt tiền được quy định như sau:
Mức phạt tiền được quy định tại các Điều 10, 11, 12, 13, 14, 15, khoản 1 và 2 Điều 19, và Chương III của Nghị định 125/2020/NĐ-CP là mức áp dụng đối với tổ chức. Riêng hộ gia đình và hộ kinh doanh áp dụng mức phạt như cá nhân.
Khi người nộp thuế vừa có tình tiết tăng nặng, vừa có tình tiết giảm nhẹ, áp dụng nguyên tắc bù trừ: mỗi tình tiết giảm nhẹ được dùng để giảm trừ một tình tiết tăng nặng tương ứng.
Các tình tiết đã được dùng để xác định khung tiền phạt thì không được sử dụng thêm khi xác định mức phạt cụ thể theo điểm d khoản 4 Điều 7 Nghị định 125/2020/NĐ-CP.
Mức phạt tiền cụ thể đối với một hành vi vi phạm thủ tục thuế, hóa đơn và hành vi tại Điều 19 Nghị định 125/2020/NĐ-CP là mức trung bình của khung phạt tiền tương ứng. Cụ thể: