
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, hành vi buôn lậu không chỉ gây thiệt hại về kinh tế mà còn ảnh hưởng đến trật tự xã hội. Mức độ nghiêm trọng của hành vi này được thể hiện qua các khung hình phạt khác nhau, tùy thuộc vào giá trị tang vật và các tình tiết liên quan. Vậy, cụ thể, hành vi buôn lậu vật phạm pháp có giá trị trên 1 tỷ đồng sẽ bị xử lý như thế nào theo Điều 188 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bởi Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017?
Để làm rõ vấn đề này, chúng ta sẽ đi sâu vào phân tích các quy định liên quan đến tội buôn lậu, đặc biệt là mức hình phạt áp dụng cho trường hợp tang vật có giá trị đặc biệt lớn, trên 1 tỷ đồng. Đồng thời, chúng ta cũng sẽ xem xét các yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự của người phạm tội.
Căn cứ theo điểm a khoản 4 Điều 188 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bởi điểm a khoản 38 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 có nêu rõ:
Điều 188 quy định cụ thể về Tội buôn lậu:
“1. Người nào buôn bán qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại trái pháp luật hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
b) Vật phạm pháp là di vật, cổ vật.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Vật phạm pháp trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
d) Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
đ) Vật phạm pháp là bảo vật quốc gia;
e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
g) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
h) Phạm tội 02 lần trở lên;
i) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 1.500.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 7 năm đến 15 năm:
a) Vật phạm pháp trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;
b) Thu lợi bất chính từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
a) Vật phạm pháp trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên;
b) Thu lợi bất chính 1.000.000.000 đồng trở lên;
c) Lợi dụng chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh hoặc hoàn cảnh đặc biệt khó khăn khác.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Ví dụ, nếu một nhóm đối tượng tổ chức đường dây buôn lậu hàng điện tử trị giá 1.2 tỷ đồng qua biên giới, và bị bắt quả tang, họ sẽ phải đối mặt với mức án từ 12 đến 20 năm tù theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 188. Mức án cụ thể sẽ phụ thuộc vào các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng khác.
Như vậy, căn cứ theo quy định nêu trên thì người nào buôn lậu vật phạm pháp có giá trị trên 1 tỷ đồng thì có thể bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm tùy theo mức độ vi phạm.
Đồng thời, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Trong hệ thống pháp luật hình sự, việc xác định các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là vô cùng quan trọng, bởi nó ảnh hưởng trực tiếp đến mức hình phạt mà người phạm tội phải chịu. Một trong số đó là tình tiết “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp”. Vậy, nếu một người thực hiện hành vi buôn lậu và hành vi này được xác định là có tính chất chuyên nghiệp, liệu người đó có bị tăng nặng trách nhiệm hình sự hay không?
Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần xem xét Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015, đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017, quy định về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Việc một người thực hiện hành vi phạm tội một cách chuyên nghiệp thể hiện mức độ nguy hiểm cao hơn cho xã hội, bởi nó cho thấy sự chuẩn bị kỹ lưỡng, kế hoạch tỉ mỉ và quyết tâm thực hiện hành vi phạm tội đến cùng.
Căn cứ theo điểm b khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 bị thay thế một số điều bởi điểm b khoản 2 Điều 2 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 có quy định các tình tiết tăng nặng hiện nay bao gồm:
“Điều 52. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
1. Chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
a) Phạm tội có tổ chức;
b) Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;
c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;
d) Phạm tội có tính chất côn đồ;
đ) Phạm tội vì động cơ đê hèn;
e) Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;
g) Phạm tội 02 lần trở lên;
h) Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm;
i) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai hoặc người đủ 70 tuổi trở lên;
k) Phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác;
l) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;
m) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hoặc tàn ác để phạm tội;
n) Dùng thủ đoạn hoặc phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội;
o) Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội;
p) Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm.
2. Các tình tiết đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng.”
Ví dụ, một người có kinh nghiệm lâu năm trong việc vận chuyển hàng hóa trái phép qua biên giới, sử dụng các phương tiện và thủ đoạn tinh vi để trốn tránh sự kiểm soát của cơ quan chức năng, và có nguồn thu nhập chính từ hoạt động này, thì hành vi buôn lậu của người này có thể được coi là có tính chất chuyên nghiệp.
Theo đó, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp là một trong những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Do đó, đối với người phạm tội buôn lậu có tính chất chuyên nghiệp thì có thể bị tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật.
Lưu ý: Các tình tiết đã được Bộ luật Hình sự 2015 quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng.
Phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm là nhiệm vụ của toàn xã hội, không chỉ riêng các cơ quan chức năng. Mỗi cá nhân, tổ chức đều có vai trò quan trọng trong việc xây dựng một xã hội an toàn, lành mạnh. Vậy, pháp luật Việt Nam quy định như thế nào về trách nhiệm này?
Theo Điều 4 Bộ luật Hình sự 2015 trách nhiệm phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm hiện nay được quy định như sau:
(1) Cơ quan Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và các cơquan hữu quan khác có trách nhiệm thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, đồng thời hướng dẫn, giúp đỡ các cơ quan khác của Nhà nước, tổ chức, cá nhân phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm, giám sát và giáo dục người phạm tội tại cộng đồng.
Ví dụ, cơ quan công an có trách nhiệm điều tra, phát hiện các hành vi buôn lậu, đồng thời phối hợp với các cơ quan quản lý thị trường để kiểm soát, ngăn chặn hàng giả, hàng kém chất lượng. Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm truy tố các đối tượng phạm tội, đảm bảo việc xét xử được công minh, đúng pháp luật.
(2) Cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ giáo dục những người thuộc quyền quản lý của mình nâng cao cảnh giác, ý thức bảo vệ và tuân theo pháp luật, tôn trọng các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa; kịp thời có biện pháp loại trừ nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm trong cơ quan, tổ chức của mình.
Chẳng hạn, một trường học có trách nhiệm giáo dục học sinh về ý thức tuân thủ pháp luật, phòng tránh các tệ nạn xã hội. Một doanh nghiệp cần xây dựng quy chế nội bộ chặt chẽ, kiểm soát hoạt động kinh doanh để ngăn chặn hành vi buôn lậu, trốn thuế.
(3) Mọi công dân có nghĩa vụ tích cực tham gia phòng, chống tội phạm.
Mỗi người dân có thể tham gia phòng chống tội phạm bằng nhiều hình thức, như tố giác tội phạm, cung cấp thông tin cho cơ quan chức năng, tham gia các hoạt động tuần tra, bảo vệ an ninh trật tự tại địa phương, hoặc đơn giản là nâng cao ý thức cảnh giác, tự bảo vệ mình và người thân khỏi nguy cơ bị xâm hại.